Chủ động ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, nhiều người dân ở huyện Trạm Tấu (Yên Bái) đã thành công với mô hình nuôi gà đen bản địa, qua đó vừa giúp tăng thu nhập vừa phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế của địa phương...

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Xà Hồ, huyện Trạm Tấu còn nhiều khó khăn, từ lâu anh Mùa A Dơ đã luôn nung nấu quyết tâm làm giàu ngay tại quê hương. Giữa năm 2018, sau khi được tham gia lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi do Trạm Khuyến nông huyện Trạm Tấu (Yên Bái) tổ chức, anh Mùa A Dơ mạnh dạn đầu tư nuôi gần 1.000 con gà đen bản địa.


Do lựa chọn loại gà đen bản địa có khả năng đề kháng cao cùng sự hướng dẫn kỹ thuật thường xuyên của đội ngũ cán bộ khuyến nông nên ngay trong lứa nuôi đầu tiên, anh Dơ đã thu về trên 100 triệu đồng. Nhận thấy hiệu quả từ việc nuôi gà đen bản địa, anh Mùa A Dơ đã tiếp tục mua thêm hơn 500 gà giống để nhân đàn. Trao đổi với chúng tôi, anh Mùa A Dơ chia sẻ: Quá trình nuôi, gia đình tôi đã được cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật nuôi úm gà, kỹ thuật tiêm vắc-xin, cách thức phòng trị bệnh cho gà... Nhờ vậy, đàn gà đen của gia đình tôi có sức đề kháng cao; gà sinh trưởng khá tốt, ít bị bệnh dịch.

Từ nhiều năm trước, bà Lò Thị Chài ở thôn Hát Lừu, xã Hát Lừu, huyện Trạm Tấu đã phát triển hoạt động chăn nuôi nhưng chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ, tự cung tự cấp nên hiệu quả kinh tế thu được không cao. Đầu năm 2018, bà Chài chính thức đầu tư thực hiện mô hình chăn nuôi giống gà đen bản địa với quy mô từ 500 – 1.000 con/lứa. Với việc tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi, nhất là chủ động phòng trừ dịch bệnh nên việc nuôi gà đen bản địa đã mang lại thu nhập ổn định, giúp gia đình bà Lò Thị Chài vươn lên thoát nghèo. Năm 2018, sau khi trừ chi phí các loại, mô hình chăn nuôi giống gà đen bản địa đã mang lại cho gia đình bà Chài số tiền hơn 80 triệu đồng.

Tìm hiểu được biết, anh Mùa A Dơ và bà Lò Thị Chài chỉ là hai trong số hàng chục hộ dân trên địa bàn huyện Trạm Tấu đã thành công với mô hình chăn nuôi giống gà đen bản địa. Giống gà đen ở Trạm Tấu có đặc điểm xương đen, nhỏ và cứng; thịt đen, thơm, chắc, ngọt. Đặc biệt, đối với đồng bào Mông ở Trạm Tấu, gà đen không chỉ là món ăn mà còn là một loại thuốc quý. Hiện nay, giá bán loại gà đen dao động từ 150 - 180 nghìn đồng/kg nên việc chăn nuôi quy mô lớn đã mang lại giá trị kinh tế tương đối cao. Theo thống kê, số lượng gà đen bản địa của toàn huyện Trạm Tấu đã tăng từ khoảng 6.000 con (năm 2018) lên trên 18.000 con (năm 2019); trong đó có nhiều hộ nuôi quy mô lớn với số lượng từ 500 - 1.000 con/lứa.

Ông Hảng A Thào, Phó phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trạm Tấu (Yên Bái) cho biết, trong khi hoạt động chăn nuôi của người dân đang gặp nhiều khó khăn, nhất là do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi, việc phát triển chăn nuôi giống gà đen bản địa đã và đang giúp nhiều hộ nông dân có thêm thu nhập. Việc chăn nuôi giống gà đen bản địa không đòi hỏi yêu cầu quá cao, người dân có thể tận dụng hệ thống chuồng trại và nguồn thức ăn tại chỗ. Tuy nhiên, đến nay hoạt động chăn nuôi gà đen bản địa ở Trạm Tấu cơ bản vẫn mang tính tự phát; thị trường tiêu thụ chủ yếu phụ thuộc vào việc thu mua của thương lái nên tính ổn định chưa cao. Mong muốn chung của người dân địa phương là tiếp tục có sự hỗ trợ của cơ quan chức năng và chính quyền các cấp trong việc bảo đảm nguồn con giống; hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh và xây dựng thương hiệu gà đen Trạm Tấu.

Với chu kỳ chăn nuôi ngắn, khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu vùng cao, việc tập trung chăn nuôi gà đen trên địa bàn huyện Trạm Tấu không chỉ giúp bảo tồn giống gà bản địa mà còn là hướng đi hiệu quả, giúp người dân địa phương phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và vươn lên làm giàu ngay tại quê hương

Biotech-VET tổng hợp

Biotech-VET - Nuôi gà đen bản địa giúp nâng cao thu nhập cho người dân

Chủ động ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, nhiều người dân ở huyện Trạm Tấu (Yên Bái) đã thành công với mô hình nuôi gà đen bản địa, qua đó vừa giúp tăng thu nhập vừa phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế của địa phương...

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Xà Hồ, huyện Trạm Tấu còn nhiều khó khăn, từ lâu anh Mùa A Dơ đã luôn nung nấu quyết tâm làm giàu ngay tại quê hương. Giữa năm 2018, sau khi được tham gia lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi do Trạm Khuyến nông huyện Trạm Tấu (Yên Bái) tổ chức, anh Mùa A Dơ mạnh dạn đầu tư nuôi gần 1.000 con gà đen bản địa.


Do lựa chọn loại gà đen bản địa có khả năng đề kháng cao cùng sự hướng dẫn kỹ thuật thường xuyên của đội ngũ cán bộ khuyến nông nên ngay trong lứa nuôi đầu tiên, anh Dơ đã thu về trên 100 triệu đồng. Nhận thấy hiệu quả từ việc nuôi gà đen bản địa, anh Mùa A Dơ đã tiếp tục mua thêm hơn 500 gà giống để nhân đàn. Trao đổi với chúng tôi, anh Mùa A Dơ chia sẻ: Quá trình nuôi, gia đình tôi đã được cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật nuôi úm gà, kỹ thuật tiêm vắc-xin, cách thức phòng trị bệnh cho gà... Nhờ vậy, đàn gà đen của gia đình tôi có sức đề kháng cao; gà sinh trưởng khá tốt, ít bị bệnh dịch.

Từ nhiều năm trước, bà Lò Thị Chài ở thôn Hát Lừu, xã Hát Lừu, huyện Trạm Tấu đã phát triển hoạt động chăn nuôi nhưng chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ, tự cung tự cấp nên hiệu quả kinh tế thu được không cao. Đầu năm 2018, bà Chài chính thức đầu tư thực hiện mô hình chăn nuôi giống gà đen bản địa với quy mô từ 500 – 1.000 con/lứa. Với việc tích cực áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi, nhất là chủ động phòng trừ dịch bệnh nên việc nuôi gà đen bản địa đã mang lại thu nhập ổn định, giúp gia đình bà Lò Thị Chài vươn lên thoát nghèo. Năm 2018, sau khi trừ chi phí các loại, mô hình chăn nuôi giống gà đen bản địa đã mang lại cho gia đình bà Chài số tiền hơn 80 triệu đồng.

Tìm hiểu được biết, anh Mùa A Dơ và bà Lò Thị Chài chỉ là hai trong số hàng chục hộ dân trên địa bàn huyện Trạm Tấu đã thành công với mô hình chăn nuôi giống gà đen bản địa. Giống gà đen ở Trạm Tấu có đặc điểm xương đen, nhỏ và cứng; thịt đen, thơm, chắc, ngọt. Đặc biệt, đối với đồng bào Mông ở Trạm Tấu, gà đen không chỉ là món ăn mà còn là một loại thuốc quý. Hiện nay, giá bán loại gà đen dao động từ 150 - 180 nghìn đồng/kg nên việc chăn nuôi quy mô lớn đã mang lại giá trị kinh tế tương đối cao. Theo thống kê, số lượng gà đen bản địa của toàn huyện Trạm Tấu đã tăng từ khoảng 6.000 con (năm 2018) lên trên 18.000 con (năm 2019); trong đó có nhiều hộ nuôi quy mô lớn với số lượng từ 500 - 1.000 con/lứa.

Ông Hảng A Thào, Phó phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Trạm Tấu (Yên Bái) cho biết, trong khi hoạt động chăn nuôi của người dân đang gặp nhiều khó khăn, nhất là do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi, việc phát triển chăn nuôi giống gà đen bản địa đã và đang giúp nhiều hộ nông dân có thêm thu nhập. Việc chăn nuôi giống gà đen bản địa không đòi hỏi yêu cầu quá cao, người dân có thể tận dụng hệ thống chuồng trại và nguồn thức ăn tại chỗ. Tuy nhiên, đến nay hoạt động chăn nuôi gà đen bản địa ở Trạm Tấu cơ bản vẫn mang tính tự phát; thị trường tiêu thụ chủ yếu phụ thuộc vào việc thu mua của thương lái nên tính ổn định chưa cao. Mong muốn chung của người dân địa phương là tiếp tục có sự hỗ trợ của cơ quan chức năng và chính quyền các cấp trong việc bảo đảm nguồn con giống; hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh và xây dựng thương hiệu gà đen Trạm Tấu.

Với chu kỳ chăn nuôi ngắn, khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu vùng cao, việc tập trung chăn nuôi gà đen trên địa bàn huyện Trạm Tấu không chỉ giúp bảo tồn giống gà bản địa mà còn là hướng đi hiệu quả, giúp người dân địa phương phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và vươn lên làm giàu ngay tại quê hương

Biotech-VET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh, gây hiệu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường. Để hiểu rõ về triệu chứng và các biện pháp phòng và chữa trị bệnh có hiệu quả, sau đây chúng tôi xin giới thiệu vài nét cơ bản về bệnh lở mồm, long móng và các biện pháp phòng, chữa trị bệnh…

1. Phòng bệnh lở mồm long móng

Bệnh LMLM có thể hạn chế được thiệt hại đáng kể bằng các biện pháp vệ sinh phòng dịch, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, tiêm phòng vắcxin.


– Thực hiện tiêm phòng vắcxin, nhất là vùng khống chế, vùng đệm, vùng có dịch xảy ra trong vòng 2 năm gần đây. Thực hiện tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai 6 tháng, lần thứ nhất nên tiêm vào tháng 3 – 4 trong năm, lần thứ hai nên tiêm vào tháng 9 – 10 trong năm.

– Cách ly triệt để gia súc ốm, không cho chăn thả tập trung; thường xuyên thực hiện vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, diệt loài gậm nhấm,… thực hiện tiêu độc, khử trùng khu vực có gia súc bị ốm, chết. Có thể dùng một trong các hoá chất sau để tiêu độc, khử trùng: BTV

– Glutar, BTV - Iodine, nước vôi 20%, vôi bột và một số hoá chất khác được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cán bộ thú y.

– Thực hiện kiểm dịch động vật nghiêm ngặt để khỏi bị lây lan theo địa lý.

– Khi phát hiện có dịch phải công bố dịch theo quy định và thực hiện các biện pháp hành chính, kỹ thuật kịp thời, triệt để nhằm ngăn chặn sự lây lan.

2. Chữa bệnh LMLM gia súc.

Vi rút LMLM dễ bị bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao (như nước đun sôi 100°C), các chất có độ toan cao như quả khế chua (pH ³ 3) và các chất kiềm mạnh như xút (pH ³ 9). 

Khi bị nhiễm bệnh LMLM, nếu không được điều trị kịp thời, gia súc non thường bị chết ở tỷ lệ từ 20 – 50%, gia súc trưởng thành thường bị chết từ 2 – 5%, tỷ lệ mắc bệnh trong một đàn thường là 100%. Đến nay, bệnh LMLM chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu, chỉ có thuốc chữa triệu chứng. Chữa triệu chứng nhằm làm cho vết thương nhanh chóng lành thành sẹo và không gây ra các biến chứng nguy hiểm làm chết gia súc.

– Chữa miệng: Dùng các chất sát trùng nhẹ, các loại quả chua như khế, chanh bóp mền, rưới nước (hoặc bơm xịt nước), trà đi, sát lại ở lưỡi, mặt trong má, hàm trên, lợi, bỏ bã vào miệng cho con vật nhai. Dùng vải mỏng thấm nước nói trên xoa vào vùng vết thương 2 – 3 lần/ngày và xoa trong vòng 4 – 5 ngày. Có thể dùng một trong các chất như: xanh Methylen 1%, thuốc tím 1%, Formol 1%, phèn chua 3%, axit acetic 3% hoặc dùng thuốc mỡ Tetracilin, Penicilin bôi vào vết thương.

– Chữa móng: Rửa sạch chân gia súc bằng nước muối, nước lá chát, hoặc thuốc tím, phèn chua, dấm ăn; sau đó bôi các chất sát trùng hút mủ, nhanh lên da non lên vùng móng bị bệnh (bột xoan trộn với dầu lạc, diêm sinh). Để đề phòng ruồi nhặng đẻ trứng vào kẽ móng, có thể dùng Cresin pha loãng hoặc dùng thuốc lào, một ít băng phiến đắp vào vết thương.

– Chữa vú: Rửa mụn loét bằng nước muối ấm, dùng dung dịch axit boric 2-3% hoặc nước xà phòng, sau đó bôi dầu cá, các thuốc sát trùng vào vết thương.

- Sử dụng kháng sinh chống viêm phổ rộng như Amocin 50Y trộn tổng đàn, Tiêm Amocin hoặc Penimy (Penicillin + Streptomycin) cho những heo có vấn đề.

– Chăm sóc cho gia súc, đảm bảo giữ chuồng khô ráo, sạch sẽ, lót chuồng dày cho gia súc nằm, cho ăn cỏ tươi, cỏ mền; bổ sung cho gia súc ăn cháo khi bị bệnh nặng.

Cùng với việc điều trị bệnh, cần tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại, môi trường xung quanh khu vực có gia súc bị bệnh và các vật dụng có liên quan đến gia súc ốm, chết; thực hiện nuôi nhốt, cách ly gia súc,… theo hướng dẫn của cán bộ thú y. Đối với vùng lần đầu tiên phát hiện có dịch lỡ mồm long móng, diện dịch hẹp, số lượng gia súc mắc bệnh ít hoặc mắc bệnh do vi rút type mới gây ra, thì biện pháp hiệu quả nhất là tiêu huỷ toàn bộ gia súc nhiễm bệnh, để nhanh chóng dập tắt ổ dịch.

Biotech-VET tổng hợp

Biotech-VET - Bệnh Lở mồm, long móng và cách phòng trị bệnh

Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh, gây hiệu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường. Để hiểu rõ về triệu chứng và các biện pháp phòng và chữa trị bệnh có hiệu quả, sau đây chúng tôi xin giới thiệu vài nét cơ bản về bệnh lở mồm, long móng và các biện pháp phòng, chữa trị bệnh…

1. Phòng bệnh lở mồm long móng

Bệnh LMLM có thể hạn chế được thiệt hại đáng kể bằng các biện pháp vệ sinh phòng dịch, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, tiêm phòng vắcxin.


– Thực hiện tiêm phòng vắcxin, nhất là vùng khống chế, vùng đệm, vùng có dịch xảy ra trong vòng 2 năm gần đây. Thực hiện tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai 6 tháng, lần thứ nhất nên tiêm vào tháng 3 – 4 trong năm, lần thứ hai nên tiêm vào tháng 9 – 10 trong năm.

– Cách ly triệt để gia súc ốm, không cho chăn thả tập trung; thường xuyên thực hiện vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, diệt loài gậm nhấm,… thực hiện tiêu độc, khử trùng khu vực có gia súc bị ốm, chết. Có thể dùng một trong các hoá chất sau để tiêu độc, khử trùng: BTV

– Glutar, BTV - Iodine, nước vôi 20%, vôi bột và một số hoá chất khác được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cán bộ thú y.

– Thực hiện kiểm dịch động vật nghiêm ngặt để khỏi bị lây lan theo địa lý.

– Khi phát hiện có dịch phải công bố dịch theo quy định và thực hiện các biện pháp hành chính, kỹ thuật kịp thời, triệt để nhằm ngăn chặn sự lây lan.

2. Chữa bệnh LMLM gia súc.

Vi rút LMLM dễ bị bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao (như nước đun sôi 100°C), các chất có độ toan cao như quả khế chua (pH ³ 3) và các chất kiềm mạnh như xút (pH ³ 9). 

Khi bị nhiễm bệnh LMLM, nếu không được điều trị kịp thời, gia súc non thường bị chết ở tỷ lệ từ 20 – 50%, gia súc trưởng thành thường bị chết từ 2 – 5%, tỷ lệ mắc bệnh trong một đàn thường là 100%. Đến nay, bệnh LMLM chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu, chỉ có thuốc chữa triệu chứng. Chữa triệu chứng nhằm làm cho vết thương nhanh chóng lành thành sẹo và không gây ra các biến chứng nguy hiểm làm chết gia súc.

– Chữa miệng: Dùng các chất sát trùng nhẹ, các loại quả chua như khế, chanh bóp mền, rưới nước (hoặc bơm xịt nước), trà đi, sát lại ở lưỡi, mặt trong má, hàm trên, lợi, bỏ bã vào miệng cho con vật nhai. Dùng vải mỏng thấm nước nói trên xoa vào vùng vết thương 2 – 3 lần/ngày và xoa trong vòng 4 – 5 ngày. Có thể dùng một trong các chất như: xanh Methylen 1%, thuốc tím 1%, Formol 1%, phèn chua 3%, axit acetic 3% hoặc dùng thuốc mỡ Tetracilin, Penicilin bôi vào vết thương.

– Chữa móng: Rửa sạch chân gia súc bằng nước muối, nước lá chát, hoặc thuốc tím, phèn chua, dấm ăn; sau đó bôi các chất sát trùng hút mủ, nhanh lên da non lên vùng móng bị bệnh (bột xoan trộn với dầu lạc, diêm sinh). Để đề phòng ruồi nhặng đẻ trứng vào kẽ móng, có thể dùng Cresin pha loãng hoặc dùng thuốc lào, một ít băng phiến đắp vào vết thương.

– Chữa vú: Rửa mụn loét bằng nước muối ấm, dùng dung dịch axit boric 2-3% hoặc nước xà phòng, sau đó bôi dầu cá, các thuốc sát trùng vào vết thương.

- Sử dụng kháng sinh chống viêm phổ rộng như Amocin 50Y trộn tổng đàn, Tiêm Amocin hoặc Penimy (Penicillin + Streptomycin) cho những heo có vấn đề.

– Chăm sóc cho gia súc, đảm bảo giữ chuồng khô ráo, sạch sẽ, lót chuồng dày cho gia súc nằm, cho ăn cỏ tươi, cỏ mền; bổ sung cho gia súc ăn cháo khi bị bệnh nặng.

Cùng với việc điều trị bệnh, cần tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại, môi trường xung quanh khu vực có gia súc bị bệnh và các vật dụng có liên quan đến gia súc ốm, chết; thực hiện nuôi nhốt, cách ly gia súc,… theo hướng dẫn của cán bộ thú y. Đối với vùng lần đầu tiên phát hiện có dịch lỡ mồm long móng, diện dịch hẹp, số lượng gia súc mắc bệnh ít hoặc mắc bệnh do vi rút type mới gây ra, thì biện pháp hiệu quả nhất là tiêu huỷ toàn bộ gia súc nhiễm bệnh, để nhanh chóng dập tắt ổ dịch.

Biotech-VET tổng hợp

Đọc thêm
Bạn có thắc mắc tại sao người ta chăn nuôi thì thu về nhiều lợi nhuận và ngày càng giàu lên còn bạn thì chỉ hòa vốn thậm chí lỗ? Dưới đây là 7 thói quen phổ biến mà các trang trại chăn nuôi gia cầmthành công thường áp dụng. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé:

1. Yếu tố di truyền trong chăn nuôi gia cầm.

Các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công khi chọn giống họ không hoàn toàn dựa vào những đặc điểm đã được công bố của giống đó mà họ chọn giống dựa vào nhu cầu của thị trường tại địa phương.


2. Dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm

Hầu hết các trang trại chăn nuôi gia cầm có xu hướng sử dụng thức ăn sẵn có từ các nhà máy, các chất phụ gia thức ăn từ các công ty đối tác.

Các trang trại chăn nuôi thành công thì ngược lại. Họ quan điểm chi phí thức ăn chiếm tới 70% tổng chi phí nên họ rất cẩn thận trong việc lựa chọn chế độ dinh dưỡng hợp lý thậm chí họ còn đầu tư thuê chuyên gia nghiên cứu kỹ công thức thức ăn sao cho phù hợp với tình hình trang trại của mình nhất, tiết kiệm nhất.

3. Bác sỹ thú y.

Thay vì việc đợi đến lúc phát sinh vấn đề mới tìm đến bác sỹ thú y hay tìm kiếm lời khuyên từ các bác sỹ thú y, phòng khám thú y địa phương thì các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công họ không làm thế.

Cách làm của các trang trại này là họ liên kết với các trung tâm thú y có chuyên môn cao, hiện đại và chọn dịch vụ tư vấn trọn gói của những trung tâm này. Mục tiêu của họ là tập trung cao vào vấn đề phòng bệnh hơn chữa bệnh. Có thể chi phí thuê đội ngũ này không hề thấp nhưng xét tổng chi phí cho thú y của họ lại không cao như các trang trại còn lại.

4. Cơ sở vật chất đối với trang trại chăn nuôi gia cầm?

Một sự khác biệt nữa giữa 2 mô hình trang trại thành công và không thành công nữa là cách họ đầu tư vào cơ sở vật chất. Các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công thường lựa chọn các trang thiết bị có chất lượng tốt nhất cho chuồng trại của mình dù chi phí ban đầu bỏ ra hơi cao hơn nhưng bù lại họ không phải mất thời gian, công sức, chi phí vào việc sữa chữa, khắc phục trong quá trình chăn nuôi.

5. Sử dụng thời gian thế nào?

Các nhà quản lý của các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công không giành nhiều thời gian chỉ để tập trung vào những công việc chi tiết. Họ tập trung vào rừng cây chứ không tập trung vào 1 cái cây cụ thể nào cả.

Nghĩa là phần lớn thời gian họ giành để nghiên cứu về xu hướng của thị trường, xem lại sổ sách báo cáo hàng năm, nghiên cứu về vật tư dài hạn hay định hướng phát triển trong 5-10 năm tới…

6. Coi chi phí như một khoản đầu tư.

Các chủ trang trại chăn nuôi gia cầm thành công quan niệm chi phí giống như một khoản đầu tư và đo lường lợi nhuận thu được trên các khoản đầu tư đó. Và họ thực hiện các khoản đầu tư đó khi lợi nhuận vẫn đang tốt chứ không phải khi lợi nhuận bắt đầu đi xuống mới tiến hành đầu tư.

Trong khi đó, các chủ trang trại chăn nuôi gia cầm chưa thành công thì lại coi chi phí giống như một cái gì đó rất xấu và không tránh khỏi, bởi vậy nên với họ, các chi phí đó mất đi vĩnh viễn và không quay trở lại.

7. “Chất lượng sống” của đàn gia cầm.

Các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công luôn đảm bảo đàn vật nuôi của họ được sống trong môi trường tốt nhất, có chế độ dinh dưỡng tốt nhất, có cơ sở vật chất tốt nhất, tình trạng sức khỏe tốt nhất…Nếu một trong số những điều trên chưa tốt, họ sẽ chưa nghỉ ngơi cho đến khi mọi thứ đều ổn.

Đồng ý là có rất nhiều yếu tố quyết định việc chăn nuôi của trang trại của bạn có thành công hay không từ kiến thức, kỹ năng thậm chí là may mắn. Tuy nhiên xét về góc độ một nhà sản xuất và chăn nuôi gia cầm hiệu quả thì 7 thói quen trên là điều kiện cần nếu muốn chăn nuôi thành công. Vòng đời của gia cầm thường rất ngắn nên nếu chỉ cần chúng ta hỏng một lứa thôi cũng sẽ làm mất lợi nhuận của cả năm chăn nuôi đó.

Biotech-VET tổng hợp

Biotech-VET - 7 thói quen của các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công.

Bạn có thắc mắc tại sao người ta chăn nuôi thì thu về nhiều lợi nhuận và ngày càng giàu lên còn bạn thì chỉ hòa vốn thậm chí lỗ? Dưới đây là 7 thói quen phổ biến mà các trang trại chăn nuôi gia cầmthành công thường áp dụng. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé:

1. Yếu tố di truyền trong chăn nuôi gia cầm.

Các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công khi chọn giống họ không hoàn toàn dựa vào những đặc điểm đã được công bố của giống đó mà họ chọn giống dựa vào nhu cầu của thị trường tại địa phương.


2. Dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm

Hầu hết các trang trại chăn nuôi gia cầm có xu hướng sử dụng thức ăn sẵn có từ các nhà máy, các chất phụ gia thức ăn từ các công ty đối tác.

Các trang trại chăn nuôi thành công thì ngược lại. Họ quan điểm chi phí thức ăn chiếm tới 70% tổng chi phí nên họ rất cẩn thận trong việc lựa chọn chế độ dinh dưỡng hợp lý thậm chí họ còn đầu tư thuê chuyên gia nghiên cứu kỹ công thức thức ăn sao cho phù hợp với tình hình trang trại của mình nhất, tiết kiệm nhất.

3. Bác sỹ thú y.

Thay vì việc đợi đến lúc phát sinh vấn đề mới tìm đến bác sỹ thú y hay tìm kiếm lời khuyên từ các bác sỹ thú y, phòng khám thú y địa phương thì các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công họ không làm thế.

Cách làm của các trang trại này là họ liên kết với các trung tâm thú y có chuyên môn cao, hiện đại và chọn dịch vụ tư vấn trọn gói của những trung tâm này. Mục tiêu của họ là tập trung cao vào vấn đề phòng bệnh hơn chữa bệnh. Có thể chi phí thuê đội ngũ này không hề thấp nhưng xét tổng chi phí cho thú y của họ lại không cao như các trang trại còn lại.

4. Cơ sở vật chất đối với trang trại chăn nuôi gia cầm?

Một sự khác biệt nữa giữa 2 mô hình trang trại thành công và không thành công nữa là cách họ đầu tư vào cơ sở vật chất. Các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công thường lựa chọn các trang thiết bị có chất lượng tốt nhất cho chuồng trại của mình dù chi phí ban đầu bỏ ra hơi cao hơn nhưng bù lại họ không phải mất thời gian, công sức, chi phí vào việc sữa chữa, khắc phục trong quá trình chăn nuôi.

5. Sử dụng thời gian thế nào?

Các nhà quản lý của các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công không giành nhiều thời gian chỉ để tập trung vào những công việc chi tiết. Họ tập trung vào rừng cây chứ không tập trung vào 1 cái cây cụ thể nào cả.

Nghĩa là phần lớn thời gian họ giành để nghiên cứu về xu hướng của thị trường, xem lại sổ sách báo cáo hàng năm, nghiên cứu về vật tư dài hạn hay định hướng phát triển trong 5-10 năm tới…

6. Coi chi phí như một khoản đầu tư.

Các chủ trang trại chăn nuôi gia cầm thành công quan niệm chi phí giống như một khoản đầu tư và đo lường lợi nhuận thu được trên các khoản đầu tư đó. Và họ thực hiện các khoản đầu tư đó khi lợi nhuận vẫn đang tốt chứ không phải khi lợi nhuận bắt đầu đi xuống mới tiến hành đầu tư.

Trong khi đó, các chủ trang trại chăn nuôi gia cầm chưa thành công thì lại coi chi phí giống như một cái gì đó rất xấu và không tránh khỏi, bởi vậy nên với họ, các chi phí đó mất đi vĩnh viễn và không quay trở lại.

7. “Chất lượng sống” của đàn gia cầm.

Các trang trại chăn nuôi gia cầm thành công luôn đảm bảo đàn vật nuôi của họ được sống trong môi trường tốt nhất, có chế độ dinh dưỡng tốt nhất, có cơ sở vật chất tốt nhất, tình trạng sức khỏe tốt nhất…Nếu một trong số những điều trên chưa tốt, họ sẽ chưa nghỉ ngơi cho đến khi mọi thứ đều ổn.

Đồng ý là có rất nhiều yếu tố quyết định việc chăn nuôi của trang trại của bạn có thành công hay không từ kiến thức, kỹ năng thậm chí là may mắn. Tuy nhiên xét về góc độ một nhà sản xuất và chăn nuôi gia cầm hiệu quả thì 7 thói quen trên là điều kiện cần nếu muốn chăn nuôi thành công. Vòng đời của gia cầm thường rất ngắn nên nếu chỉ cần chúng ta hỏng một lứa thôi cũng sẽ làm mất lợi nhuận của cả năm chăn nuôi đó.

Biotech-VET tổng hợp

Đọc thêm
Tôm bị nhiễm bệnh cong đục thân chủ yếu ở giai đoạn từ 10 ngày tuổi trở lên, nếu không có biện pháp chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ sống và gây thiệt hại lớn về tiền và của. Vậy nguyên nhân tôm bị cong thân là gì và giải pháp phòng ngừa tốt nhất hiện nay? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây, hãy cùng Biotechviet chúng tôi tìm hiểu nhé.

Biểu hiện của bệnh

– Phần mô cơ chạy dọc theo cơ thể trở nên trắng đục kèm theo đó là hiện tượng cong thân (giống con tôm chín).


– Khi đưa tôm trở lại ao thân tôm vẫn bị cong và không duỗi thẳng lại được, tôm chết sau một thời gian ngắn.
Nguyên nhân tôm bị cong thân là do các yếu tố sau đây

– Hiện tượng tôm thiếu khoáng:

+ Nguyên nhân gián tiếp gây hiện tượng cong thân, đục cơ là thiếu các loại khoáng vi lượng và đa dạng.

+ Trong môi trường ao nuôi không cung cấp đủ khoáng cho tôm hoặc độ mặn cao diễn ra quá trình cạnh tranh ion làm tôm khó hấp thu khoáng dẫn đến tôm bị bệnh.

– Bệnh do sốc môi trường:

+ Bệnh xảy ra khi nhấc nhá lên khỏi mặt nước vào ban ngày, chài tôm khi trời nóng tôm sẽ bị sốc do sự chênh lệch nhiệt độ.

+ Khi bật và tắt quạt làm tôm giật mình phản ứng lại hoặc trường hợp thu tỉa làm tôm bị stress khiến cơ bị đục một phần hay tòn bộ cơ thể.

+ Việc ao thiếu oxy cũng là nguyên nhân khiến môi trường thay đổi, nắng mưa xen kẽ làm tôm bị sốc nhiệt dễ mắc bệnh cong thân và đục cơ.

Cách trị bệnh cong thân, đục cơ trên tôm

– Đối với trường hợp tôm bị cong thân, đục cơ bà con nên bổ sung các loại khoáng chất cần thiết và Vitamin cho tôm để khắc phục tình trạng thiếu dinh dưỡng và phòng ngừa một số loại bệnh khác như bệnh đường ruột trên tôm…

– Ngăn ngừa sự hình thành các loại virus và vi bào tử trùng, chuẩn bị ao nuôi kỹ lưỡng, xử lý nước định kỳ, tránh lượng thức ăn dư thừa. Bà con có thể sử dụng chế phẩm tự nhiên BTV – TP05 Super để phân hủy thức ăn dư thừa trong ao nuôi)

– Trong quá trình nuôi cần quản lý các yếu tố môi trường luôn nằm trong ngưỡng thích hợp và ổn định.

– Tránh kéo lưới, chuyển ao nuôi trong những ngày nắng nóng hoặc giá rét.

Bệnh cong thân có thể gây thiệt hại rất lớn, trong khi chưa có thuốc điều trị hiệu quả. Do đó, bà con cần phải nắm được các nguyên nhân tôm bị cong thân, đục cơ từ đó có các giải pháp phòng ngừa tốt nhất. Mọi thông tin cần Biotechviet chúng tôi tư vấn xin vui lòng liên hệ đến số Hotline 0975 951 151 hoặc 0975 280111 truy cập vào trang Website: http://biotechviet.vn nhé.

Biotech-VET tổng hợp



Biotech-VET - Tại sao tôm bị bệnh cong thân và phương pháp chữa trị

Tôm bị nhiễm bệnh cong đục thân chủ yếu ở giai đoạn từ 10 ngày tuổi trở lên, nếu không có biện pháp chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ sống và gây thiệt hại lớn về tiền và của. Vậy nguyên nhân tôm bị cong thân là gì và giải pháp phòng ngừa tốt nhất hiện nay? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây, hãy cùng Biotechviet chúng tôi tìm hiểu nhé.

Biểu hiện của bệnh

– Phần mô cơ chạy dọc theo cơ thể trở nên trắng đục kèm theo đó là hiện tượng cong thân (giống con tôm chín).


– Khi đưa tôm trở lại ao thân tôm vẫn bị cong và không duỗi thẳng lại được, tôm chết sau một thời gian ngắn.
Nguyên nhân tôm bị cong thân là do các yếu tố sau đây

– Hiện tượng tôm thiếu khoáng:

+ Nguyên nhân gián tiếp gây hiện tượng cong thân, đục cơ là thiếu các loại khoáng vi lượng và đa dạng.

+ Trong môi trường ao nuôi không cung cấp đủ khoáng cho tôm hoặc độ mặn cao diễn ra quá trình cạnh tranh ion làm tôm khó hấp thu khoáng dẫn đến tôm bị bệnh.

– Bệnh do sốc môi trường:

+ Bệnh xảy ra khi nhấc nhá lên khỏi mặt nước vào ban ngày, chài tôm khi trời nóng tôm sẽ bị sốc do sự chênh lệch nhiệt độ.

+ Khi bật và tắt quạt làm tôm giật mình phản ứng lại hoặc trường hợp thu tỉa làm tôm bị stress khiến cơ bị đục một phần hay tòn bộ cơ thể.

+ Việc ao thiếu oxy cũng là nguyên nhân khiến môi trường thay đổi, nắng mưa xen kẽ làm tôm bị sốc nhiệt dễ mắc bệnh cong thân và đục cơ.

Cách trị bệnh cong thân, đục cơ trên tôm

– Đối với trường hợp tôm bị cong thân, đục cơ bà con nên bổ sung các loại khoáng chất cần thiết và Vitamin cho tôm để khắc phục tình trạng thiếu dinh dưỡng và phòng ngừa một số loại bệnh khác như bệnh đường ruột trên tôm…

– Ngăn ngừa sự hình thành các loại virus và vi bào tử trùng, chuẩn bị ao nuôi kỹ lưỡng, xử lý nước định kỳ, tránh lượng thức ăn dư thừa. Bà con có thể sử dụng chế phẩm tự nhiên BTV – TP05 Super để phân hủy thức ăn dư thừa trong ao nuôi)

– Trong quá trình nuôi cần quản lý các yếu tố môi trường luôn nằm trong ngưỡng thích hợp và ổn định.

– Tránh kéo lưới, chuyển ao nuôi trong những ngày nắng nóng hoặc giá rét.

Bệnh cong thân có thể gây thiệt hại rất lớn, trong khi chưa có thuốc điều trị hiệu quả. Do đó, bà con cần phải nắm được các nguyên nhân tôm bị cong thân, đục cơ từ đó có các giải pháp phòng ngừa tốt nhất. Mọi thông tin cần Biotechviet chúng tôi tư vấn xin vui lòng liên hệ đến số Hotline 0975 951 151 hoặc 0975 280111 truy cập vào trang Website: http://biotechviet.vn nhé.

Biotech-VET tổng hợp



Đọc thêm
Xác định thực trạng chăn nuôi trên địa bàn còn mang tính nhỏ lẻ; chưa có nhiều hộ chăn nuôi theo mô hình gia trại, trang trại... trong khi đó, nhu cầu về thực phẩm và con giống trên địa bàn huyện là rất lớn; với mục tiêu, xây dựng mô hình chăn nuôi gà tập trung theo hướng hàng hóa; góp phần tăng trưởng tỷ trọng chăn nuôi trên địa bàn, tháng 5.2017, UBND huyện Hoàng Su Phì ban hành phương án nuôi gà xương đen sinh sản theo hướng tập trung tại tổ 3, thị trấn Vinh Quang.



Với quy mô ban đầu 2.000 con gà giống, và chọn hộ anh Phan Hữu Tụ thực hiện, với tổng kinh phí đầu tư trên 2,3 tỷ đồng. Trong đó, vốn của gia đình anh Tụ là 700 triệu đồng. Ngay sau khi huyện ban hành phương án, anh Tụ tiến hành đầu tư xây dựng chuồng trại trên diện tích hơn 2.000 m2, bao gồm nhiều dãy chuồng và chia thành các ô được làm bằng cột thép, mái lợp tôn, nền láng xi măng, chuồng úm gà, khu đặt máy ấp trứng, lắp đặt hệ thống điện để chiếu sáng và sưởi ấm đàn gà..

Anh Tụ cho biết: “Gia đình đã chăn nuôi gà từ năm 2015, lợi nhuận mỗi năm thu về khoảng trên 300 triệu đồng. Trước khi thực hiện phương án của huyện, gia đình tôi có 7.000 con gà trong chuồng; trong đó, gà xương đen 4.000 con. Giống gà xương đen được thị trường trong và ngoài tỉnh rất ưa chuộng, bởi chất lượng thịt thơm ngon. Các thương lái ở nhiều tỉnh, như: Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội, Hải Phòng…, đến tận gia đình để mua; nhiều khi không có gà để bán cho thương lái. Thực hiện phương án của huyện, tôi mua thêm 2.000 con gà giống xương đen để nuôi sinh sản; gà nuôi được 6 tháng tuổi thì bắt đầu đẻ trứng. Gia đình tự ấp trứng và bán gà con giống, với giá bình quân 12.000 đồng/con; còn gà thịt bán cho thương lái đến thu mua tại chuồng là 150.000 đồng/kg, cao hơn nhiều so với giá bán 100.000 đồng/kg với giống gà ta thông thường”.

Cũng theo anh Tụ, gà xương đen khi chăm sóc phải hết sức lưu ý đến thức ăn, ngoài ngô, thóc; anh thường xuyên bổ sung thêm các loại rau xanh. Đặc biệt, phải hết sức chú ý khâu phòng dịch, bệnh và tiêm vắc xin theo từng giai đoạn tuổi của gà. Đồng thời, thường xuyên phải quan tâm đến yếu tố thời tiết; mùa Hè phải thoáng mát, mùa Đông cần sưởi ấm cho gà từ 1 - 30 ngày tuổi bằng bóng điện và quây chuồng trại kín gió. Nhờ chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, nên đàn gà của gia đình anh luôn phát triển tốt, khỏe mạnh và lớn nhanh. Hiện, anh đang chuẩn bị nhập chuồng thêm 6.000 con gà xương đen.

Ngoài nuôi gà xương đen, gia đình anh Tụ còn nuôi gà thịt là giống gà ta chân vàng, gà siêu trứng Ai Cập và gà Đông Tảo. Bình quân 4,5 tháng anh xuất bán một lứa gà thịt, mỗi lứa khoảng 6.000 con. Theo tính toán, 1 con gà thương phẩm xuất chuồng nặng từ 1,5 - 1,8 kg, với giá bán bình quân 100.000 đồng/kg; ngoài ra, anh còn bán trứng và gà giống, mỗi năm, gia đình anh xuất bán khoảng 12.000 con gà giống ra thị trường. Trang trại của gia đình anh luôn tạo việc làm thường xuyên cho 5 – 6 lao động địa phương, với thu nhập 5 triệu đồng/người/tháng. Theo nhẩm tính của anh Tụ, trong năm 2018, ước tính gia đình anh sẽ thu lãi khoảng hơn 700 triệu đồng từ chăn nuôi gà.

Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện, có thể khẳng định: Phương án chăn nuôi gà sinh sản theo hướng tập trung tại thị trấn Vinh Quang bước đầu đã đem lại hiệu quả, cũng như góp phần làm thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ của người dân sang quy mô gia trại, trang trại; từng bước đáp ứng được nhu cầu thị trường đối với sản phẩm chăn nuôi trong, ngoài huyện và đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân.

Biotech-VET tổng hợp

Biotech-VET - Vươn lên làm giàu từ chăn nuôi gà hàng hóa

Xác định thực trạng chăn nuôi trên địa bàn còn mang tính nhỏ lẻ; chưa có nhiều hộ chăn nuôi theo mô hình gia trại, trang trại... trong khi đó, nhu cầu về thực phẩm và con giống trên địa bàn huyện là rất lớn; với mục tiêu, xây dựng mô hình chăn nuôi gà tập trung theo hướng hàng hóa; góp phần tăng trưởng tỷ trọng chăn nuôi trên địa bàn, tháng 5.2017, UBND huyện Hoàng Su Phì ban hành phương án nuôi gà xương đen sinh sản theo hướng tập trung tại tổ 3, thị trấn Vinh Quang.



Với quy mô ban đầu 2.000 con gà giống, và chọn hộ anh Phan Hữu Tụ thực hiện, với tổng kinh phí đầu tư trên 2,3 tỷ đồng. Trong đó, vốn của gia đình anh Tụ là 700 triệu đồng. Ngay sau khi huyện ban hành phương án, anh Tụ tiến hành đầu tư xây dựng chuồng trại trên diện tích hơn 2.000 m2, bao gồm nhiều dãy chuồng và chia thành các ô được làm bằng cột thép, mái lợp tôn, nền láng xi măng, chuồng úm gà, khu đặt máy ấp trứng, lắp đặt hệ thống điện để chiếu sáng và sưởi ấm đàn gà..

Anh Tụ cho biết: “Gia đình đã chăn nuôi gà từ năm 2015, lợi nhuận mỗi năm thu về khoảng trên 300 triệu đồng. Trước khi thực hiện phương án của huyện, gia đình tôi có 7.000 con gà trong chuồng; trong đó, gà xương đen 4.000 con. Giống gà xương đen được thị trường trong và ngoài tỉnh rất ưa chuộng, bởi chất lượng thịt thơm ngon. Các thương lái ở nhiều tỉnh, như: Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội, Hải Phòng…, đến tận gia đình để mua; nhiều khi không có gà để bán cho thương lái. Thực hiện phương án của huyện, tôi mua thêm 2.000 con gà giống xương đen để nuôi sinh sản; gà nuôi được 6 tháng tuổi thì bắt đầu đẻ trứng. Gia đình tự ấp trứng và bán gà con giống, với giá bình quân 12.000 đồng/con; còn gà thịt bán cho thương lái đến thu mua tại chuồng là 150.000 đồng/kg, cao hơn nhiều so với giá bán 100.000 đồng/kg với giống gà ta thông thường”.

Cũng theo anh Tụ, gà xương đen khi chăm sóc phải hết sức lưu ý đến thức ăn, ngoài ngô, thóc; anh thường xuyên bổ sung thêm các loại rau xanh. Đặc biệt, phải hết sức chú ý khâu phòng dịch, bệnh và tiêm vắc xin theo từng giai đoạn tuổi của gà. Đồng thời, thường xuyên phải quan tâm đến yếu tố thời tiết; mùa Hè phải thoáng mát, mùa Đông cần sưởi ấm cho gà từ 1 - 30 ngày tuổi bằng bóng điện và quây chuồng trại kín gió. Nhờ chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, nên đàn gà của gia đình anh luôn phát triển tốt, khỏe mạnh và lớn nhanh. Hiện, anh đang chuẩn bị nhập chuồng thêm 6.000 con gà xương đen.

Ngoài nuôi gà xương đen, gia đình anh Tụ còn nuôi gà thịt là giống gà ta chân vàng, gà siêu trứng Ai Cập và gà Đông Tảo. Bình quân 4,5 tháng anh xuất bán một lứa gà thịt, mỗi lứa khoảng 6.000 con. Theo tính toán, 1 con gà thương phẩm xuất chuồng nặng từ 1,5 - 1,8 kg, với giá bán bình quân 100.000 đồng/kg; ngoài ra, anh còn bán trứng và gà giống, mỗi năm, gia đình anh xuất bán khoảng 12.000 con gà giống ra thị trường. Trang trại của gia đình anh luôn tạo việc làm thường xuyên cho 5 – 6 lao động địa phương, với thu nhập 5 triệu đồng/người/tháng. Theo nhẩm tính của anh Tụ, trong năm 2018, ước tính gia đình anh sẽ thu lãi khoảng hơn 700 triệu đồng từ chăn nuôi gà.

Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện, có thể khẳng định: Phương án chăn nuôi gà sinh sản theo hướng tập trung tại thị trấn Vinh Quang bước đầu đã đem lại hiệu quả, cũng như góp phần làm thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ của người dân sang quy mô gia trại, trang trại; từng bước đáp ứng được nhu cầu thị trường đối với sản phẩm chăn nuôi trong, ngoài huyện và đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân.

Biotech-VET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh Thương hàn là bệnh như thế nào?

Bệnh thương hàn là bệnh phổ biến trên các loài gia cầm, trong đó có chim bồ câu. Phòng và trị bệnh cho chim nhằm giảm các thiệt hại về kinh tế là rất cần thiết.

Triệu chứng, bệnh tích

Thời gian ủ bệnh thường 1 - 2 ngày, bồ cầu bị bệnh thường có các thể hiện: Ít hoạt động, kém ăn, uống nước nhiều. Sau đó, thân nhiệt tăng, chim đứng ủ rũ một chỗ, thở gấp, đặc biệt là ỉa chảy, phân màu xanh hoặc xám vàng, giai đoạn cuối có lẫn máu. Nếu bệnh nặng, bồ cầu có thể chết sau 3 - 5 ngày.


Một số bệnh tích khi mổ khám gồm: Các niêm mạc bị sưng huyết, niêm mạc diều, dạ dày tuyến và ruột tụ huyết từng đám. Ở ruột non và ruột già còn thấy niêm mạc bị tổn thương, tróc ra và có các điểm hoại tử ở phần ruột gà. Chùm hạch lâm ba ruột cũng bị tụ huyết.

Phòng bệnh

Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng bệnh cho chim bồ câu như: Ðảm bảo chuồng nuôi thoáng mát, có ánh nắng chiều vào; Thức ăn phải đủ chất dinh dưỡng, không ẩm mốc; Nước uống phải sạch và được thay thường xuyên; Ðịnh kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại bằng BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine... Dọn vệ sinh sạch sẽ, sát trùng dụng cụ chăn nuôi sau mỗi đợt xuất chuồng, để trống chuồng trại 10 - 15 ngày mới nuôi tiếp đợt khác. Thường xuyên tiêm chủng chống lại vi khuẩn Salmonella; Bổ sung vitamin C, BTV – Kháng thể E.Coli gia cầm để tăng sức đề kháng, giảm stress và tạo miễn dịch tốt cho bồ câu nuôi.

Khi có bệnh xảy ra cần cách ly chim ốm để điều trị; Phun thuốc sát trùng, tiêu độc toàn bộ khu vực chăn nuôi liên tục 2 - 3 lần trong tuần đầu; Chuồng nuôi phải để nguyên trạng, phun thuốc sát trùng và ủ trong 5 - 7 ngày; Hạn chế ra vào trại; Thực hiện quét dọn, thu gom và tiêu hủy phân rác, chất độn chuồng; Rửa sạch chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi, để khô sau đó phun thuốc sát trùng 2 lần, cách nhau 10 - 15 ngày bằng các dung dịch sau: Nước vôi tôi 10%, Formalin 2 - 3%, Crezin 5%; Bổ sung các chất dinh dưỡng bổ trợ để tăng cường sức đề kháng cho đàn bồ câu. Toàn bộ số chim trong chuồng có chim ốm cho uống BTV – Kháng thể E.Coli gia cầm trong 3 ngày liền.

Trị bệnh

Bệnh do vi khuẩn gây ra nên có thể sử dụng kháng sinh để điều trị. Người nuôi có thể sử dụng một số loại kháng sinh sau: BTV – Tilmicovet Plus liều 20 mg/kg thể trọng; Thuốc pha với nước theo tỷ lệ 1 thuốc + 10 nước; cho chim uống trực tiếp, liên tục trong 3 - 4 ngày. Kết hợp với vitamin B1, C, K (BTV- Gluco K C thảo dược) để bổ trợ cho bồ câu trong quá trình điều trị. Trong quá trình trị bệnh, người nuôi nên cho chim ăn thức ăn mềm dễ tiêu như thức hỗn hợp dạng bột để tránh tổn thương niêm mạc tiêu hóa.

Biotech-VET tổng hợp

Biotech-VET - Làm thế nào để tránh bệnh thương hàn ở chim bồ câu?

Bệnh Thương hàn là bệnh như thế nào?

Bệnh thương hàn là bệnh phổ biến trên các loài gia cầm, trong đó có chim bồ câu. Phòng và trị bệnh cho chim nhằm giảm các thiệt hại về kinh tế là rất cần thiết.

Triệu chứng, bệnh tích

Thời gian ủ bệnh thường 1 - 2 ngày, bồ cầu bị bệnh thường có các thể hiện: Ít hoạt động, kém ăn, uống nước nhiều. Sau đó, thân nhiệt tăng, chim đứng ủ rũ một chỗ, thở gấp, đặc biệt là ỉa chảy, phân màu xanh hoặc xám vàng, giai đoạn cuối có lẫn máu. Nếu bệnh nặng, bồ cầu có thể chết sau 3 - 5 ngày.


Một số bệnh tích khi mổ khám gồm: Các niêm mạc bị sưng huyết, niêm mạc diều, dạ dày tuyến và ruột tụ huyết từng đám. Ở ruột non và ruột già còn thấy niêm mạc bị tổn thương, tróc ra và có các điểm hoại tử ở phần ruột gà. Chùm hạch lâm ba ruột cũng bị tụ huyết.

Phòng bệnh

Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng bệnh cho chim bồ câu như: Ðảm bảo chuồng nuôi thoáng mát, có ánh nắng chiều vào; Thức ăn phải đủ chất dinh dưỡng, không ẩm mốc; Nước uống phải sạch và được thay thường xuyên; Ðịnh kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại bằng BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine... Dọn vệ sinh sạch sẽ, sát trùng dụng cụ chăn nuôi sau mỗi đợt xuất chuồng, để trống chuồng trại 10 - 15 ngày mới nuôi tiếp đợt khác. Thường xuyên tiêm chủng chống lại vi khuẩn Salmonella; Bổ sung vitamin C, BTV – Kháng thể E.Coli gia cầm để tăng sức đề kháng, giảm stress và tạo miễn dịch tốt cho bồ câu nuôi.

Khi có bệnh xảy ra cần cách ly chim ốm để điều trị; Phun thuốc sát trùng, tiêu độc toàn bộ khu vực chăn nuôi liên tục 2 - 3 lần trong tuần đầu; Chuồng nuôi phải để nguyên trạng, phun thuốc sát trùng và ủ trong 5 - 7 ngày; Hạn chế ra vào trại; Thực hiện quét dọn, thu gom và tiêu hủy phân rác, chất độn chuồng; Rửa sạch chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi, để khô sau đó phun thuốc sát trùng 2 lần, cách nhau 10 - 15 ngày bằng các dung dịch sau: Nước vôi tôi 10%, Formalin 2 - 3%, Crezin 5%; Bổ sung các chất dinh dưỡng bổ trợ để tăng cường sức đề kháng cho đàn bồ câu. Toàn bộ số chim trong chuồng có chim ốm cho uống BTV – Kháng thể E.Coli gia cầm trong 3 ngày liền.

Trị bệnh

Bệnh do vi khuẩn gây ra nên có thể sử dụng kháng sinh để điều trị. Người nuôi có thể sử dụng một số loại kháng sinh sau: BTV – Tilmicovet Plus liều 20 mg/kg thể trọng; Thuốc pha với nước theo tỷ lệ 1 thuốc + 10 nước; cho chim uống trực tiếp, liên tục trong 3 - 4 ngày. Kết hợp với vitamin B1, C, K (BTV- Gluco K C thảo dược) để bổ trợ cho bồ câu trong quá trình điều trị. Trong quá trình trị bệnh, người nuôi nên cho chim ăn thức ăn mềm dễ tiêu như thức hỗn hợp dạng bột để tránh tổn thương niêm mạc tiêu hóa.

Biotech-VET tổng hợp

Đọc thêm
1, Thức ăn thô

Thức ăn thô là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho bò, bao gồm các loại cỏ: Cỏ tươi, cỏ khô và thức ăn ủ chua. Cỏ tươi có thể từ nguồn cỏ tự nhiên, hoặc cỏ trồng như các loại: Cỏ voi, cỏ sả, cỏ paspalum hoặc cỏ mulato.

Ngoài ra người chăn nuôi có thể tận dụng các loại phụ phẩm của công nghiệp chế biến rau quả như vỏ trái thơm, bã mía để cho bò ăn. Các loại thức ăn thô xanh thường chứa nhiều nước, dễ tiêu hóa, tạo cảm giác ngon miệng, cung cấp nhiều vitamin và chất xơ. Nếu thiếu cỏ tươi sẽ ảnh hưởng đến hàm lượng chất béo trong sữa, nếu bò thiếu thức ăn thô xanh trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản.


Cỏ khô, rơm… có thể thay thế một phần cỏ tươi trong trường hợp nguồn cỏ tươi bị hạn chế. Cỏ khô tương đối khó tiêu hóa, đặc biệt là rơm nên nếu cho ăn thường xuyên sẽ khiến bò kém ăn, sản lượng sữa giảm sút. Khi cho bò ăn rơm hoặc cỏ khô, có thể tưới nước có pha urê trước khi cho bò ăn, có tác dụng làm mềm và bổ sung thêm chất đạm vô cơ.

Thức ăn ủ chua được làm bằng cách ủ chua thân cây bắp hoặc các loại cỏ. Loại thức ăn này khá thơm, vị hơi chua, nhiều vitamin nhóm B, có chứa nhiều vi khuẩn lên men lactic và bò rất thích ăn. Tuy nhiên, không thể sử dụng hoàn toàn thức ăn ủ chua thay thế cho thức ăn thô xanh, vì có thể gây rối loạn tiêu hóa và bò bị tiêu chảy khi ăn quá nhiều. Ở nước ta có thể tận dụng cỏ thừa không kịp sử dụng, hoặc thân cây bắp sau khi thu hoạch, để sản xuất thức ăn ủ chua và cho bò ăn vào những lúc thức ăn thô xanh khan hiếm.

Cho dù người chăn nuôi cho bò ăn loại thức ăn thô xanh nào, một điều đáng lưu ý là bò sữa nên được cho ăn suốt ngày, lúc nào trong máng cũng có sẵn cỏ để bò ăn.

2. Thức ăn tinh

Thức ăn tinh gồm các loại cám gạo, bắp, phụ phế phẩm, củ quả và các loại cám hỗn hợp… Những loại thức ăn này chứa nhiều chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa nhưng cũng tiềm ẩn mối nguy gây rối loạn tiêu hóa nếu sử dụng quá nhiều. Bởi lẽ bò sữa có dạ dày 4 túi thích nghi với việc ăn cỏ hơn là sử dụng các loại thức ăn tinh.

Lượng thức ăn tinh cho bò ăn hàng ngày phải được tính toán cho phù hợp và phân thành nhiều lần ăn trong ngày, mỗi lần cho ăn không quá 2kg. Nên cho ăn dưới dạng khô khi bò đang vắt sữa, nhưng cũng có thể cho thức ăn tinh và thức ăn thô băm nhỏ trộn chung. Tuy nhiên, cách này chỉ phù hợp với trại có quy mô chăn nuôi lớn.

Biotech-VET tổng hợp.

Biotech-VET - Cho bò ăn như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất

1, Thức ăn thô

Thức ăn thô là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho bò, bao gồm các loại cỏ: Cỏ tươi, cỏ khô và thức ăn ủ chua. Cỏ tươi có thể từ nguồn cỏ tự nhiên, hoặc cỏ trồng như các loại: Cỏ voi, cỏ sả, cỏ paspalum hoặc cỏ mulato.

Ngoài ra người chăn nuôi có thể tận dụng các loại phụ phẩm của công nghiệp chế biến rau quả như vỏ trái thơm, bã mía để cho bò ăn. Các loại thức ăn thô xanh thường chứa nhiều nước, dễ tiêu hóa, tạo cảm giác ngon miệng, cung cấp nhiều vitamin và chất xơ. Nếu thiếu cỏ tươi sẽ ảnh hưởng đến hàm lượng chất béo trong sữa, nếu bò thiếu thức ăn thô xanh trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản.


Cỏ khô, rơm… có thể thay thế một phần cỏ tươi trong trường hợp nguồn cỏ tươi bị hạn chế. Cỏ khô tương đối khó tiêu hóa, đặc biệt là rơm nên nếu cho ăn thường xuyên sẽ khiến bò kém ăn, sản lượng sữa giảm sút. Khi cho bò ăn rơm hoặc cỏ khô, có thể tưới nước có pha urê trước khi cho bò ăn, có tác dụng làm mềm và bổ sung thêm chất đạm vô cơ.

Thức ăn ủ chua được làm bằng cách ủ chua thân cây bắp hoặc các loại cỏ. Loại thức ăn này khá thơm, vị hơi chua, nhiều vitamin nhóm B, có chứa nhiều vi khuẩn lên men lactic và bò rất thích ăn. Tuy nhiên, không thể sử dụng hoàn toàn thức ăn ủ chua thay thế cho thức ăn thô xanh, vì có thể gây rối loạn tiêu hóa và bò bị tiêu chảy khi ăn quá nhiều. Ở nước ta có thể tận dụng cỏ thừa không kịp sử dụng, hoặc thân cây bắp sau khi thu hoạch, để sản xuất thức ăn ủ chua và cho bò ăn vào những lúc thức ăn thô xanh khan hiếm.

Cho dù người chăn nuôi cho bò ăn loại thức ăn thô xanh nào, một điều đáng lưu ý là bò sữa nên được cho ăn suốt ngày, lúc nào trong máng cũng có sẵn cỏ để bò ăn.

2. Thức ăn tinh

Thức ăn tinh gồm các loại cám gạo, bắp, phụ phế phẩm, củ quả và các loại cám hỗn hợp… Những loại thức ăn này chứa nhiều chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa nhưng cũng tiềm ẩn mối nguy gây rối loạn tiêu hóa nếu sử dụng quá nhiều. Bởi lẽ bò sữa có dạ dày 4 túi thích nghi với việc ăn cỏ hơn là sử dụng các loại thức ăn tinh.

Lượng thức ăn tinh cho bò ăn hàng ngày phải được tính toán cho phù hợp và phân thành nhiều lần ăn trong ngày, mỗi lần cho ăn không quá 2kg. Nên cho ăn dưới dạng khô khi bò đang vắt sữa, nhưng cũng có thể cho thức ăn tinh và thức ăn thô băm nhỏ trộn chung. Tuy nhiên, cách này chỉ phù hợp với trại có quy mô chăn nuôi lớn.

Biotech-VET tổng hợp.

Đọc thêm