Khi thời tiết giá lạnh có băng giá, sương muối cộng với nền chuồng ẩm ướt mất vệ sinh mà trâu bò phải đứng trên chuồng nuôi với thời gian dài sẽ làm cho chân bị tê cóng dẫn đến hệ thống mao mạch ở chân bị co lại, kém lưu thông máu. Nếu thời tiết lạnh kéo dài từ 3 – 5 ngày thì hệ thống mao mạch ở chân trâu bò sẽ bị tắc nghẽn dẫn tới bệnh cước chân.

Dấu hiệu nhận biết

Ở giai đoạn mới mắc bệnh cước chân chân trâu bò chỉ bị sưng nhẹ và di chuyển chậm chạp, khập khiễng. Nếu không được điều trị kịp thời thì chân trâu bò lúc này sẽ có triệu chứng bị phù nề, sưng tấy, nhiều vết tím đỏ hoặc vết nứt da, rỉ nước màu vàng, nếu bà con ấn tay vào chỗ sưng khi bỏ tay ra sẽ thấy rõ vết lõm sâu là do hệ thống mạch máu ở vùng bàn chân đã bị tắc làm cho vùng da xung quanh móng và bàn chân bị hoại tử nặng.


Bệnh cước chân ở trâu bò

Do đó khi phát hiện thấy những triệu chứng đầu tiên chân trâu bò bị sưng, phù nề bà con cần phải có biện pháp xử lý ngay, khắc phục càng sớm càng tốt thì bệnh càng dễ điều trị và nhanh khỏi.

Cách phòng bệnh

Để đề phòng bệnh này khi nhiệt độ dưới 12 độ C bà con không nên thả trâu bò ở ngoài, không bắt trâu bò làm việc ngoài ra cần chăm sóc nuôi dưỡng để nâng cao sức đề kháng cho trâu bò.

Luôn giữ chuồng trại được khô ráo, sạch sẽ, che chắn kín gió, giữ ấm cho trâu bò và đảm bảo vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi.

Thường xuyên vệ sinh chuồng trại nuôi bò

Dự trữ thức ăn như rơm, cỏ khô để cho trâu bò ăn uống đầy đủ và bổ sung thêm các loại thức ăn tinh như cám gạo, bột ngô, sắn với lượng thức ăn tinh khoảng 2kg/ngày.

Dùng các vật liệu để giữ ấm cho gia súc như bao tải hoặc có thể tăng nhiệt độ của chuồng trại lên bằng cách đốt lửa sưởi ấm cho trâu bò. Bà con lưu ý khi đốt lửa sưởi ấm cần chuẩn bị ống thông khói để trâu bò không bị ngạt.

Tiêm phòng đầy đủ cho trâu bò hàng năm và tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu bò trước mùa mưa rét. Định kỳ kiểm tra vệ sinh khử trùng chuồng trại và môi trường chăn nuôi.

Áp dụng các biện pháp phòng tránh đúng đắn sẽ giúp bà con loại trừ được nguy cơ mắc bệnh cước chân cho đàn trâu bò của gia đình mình nhất là trong điều kiện khắc nghiệt của mùa đông ở các tỉnh phía Bắc.

Cách điều trị

Nếu bệnh mới xuất hiện bà con cần rửa sạch, lau khô chân trâu bò, dùng gừng, riêng giã nhỏ rồi sao nóng lên cho vào túi vải chườm vào chỗ sưng của trâu bò. Hoặc bà con có thể dùng rơm rạ, bao tải…chà sát vào chỗ sưng để làm cho máu tụ tan ra, mạch máu có thể lưu thông trở lại.

Bên cạnh đó bà con còn có thể dùng cồn Methyl salicylate xoa vào chân trâu bò sau khi rửa sạch, lau khô. Không được để trâu bò nằm tiếp xúc với nền chuồng vì sẽ gây hoại tử cho phần da tiếp xúc.

Nếu chân trâu bò có chỗ bị vỡ, loét do nhiễm trùng thì bà con phải rửa sạch chỗ đó bằng dung dịch thuốc tím, sau đó rắc bột kháng khuẩn Sunfamid và bột kháng sinh Tetracyclin lên.

Trường hợp chân trâu bò có nhiều chỗ bị hoại tử thì bà con cần phải loại bỏ những phần đó ra, sau đó tiếp tục cho trâu bò dùng kháng sinh liên tục từ 5 – 7 ngày. Tiêm kháng sinh Pen – Strep, Ampicillin… theo liều lượng của nhà sản xuất. Ngoài ra cần phải tăng cường trợ sức cho trâu bò bằng các loại thuốc khác như khoáng POVIMIX và BTV - B.Complex Men

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh cước chân ở trâu bò

Khi thời tiết giá lạnh có băng giá, sương muối cộng với nền chuồng ẩm ướt mất vệ sinh mà trâu bò phải đứng trên chuồng nuôi với thời gian dài sẽ làm cho chân bị tê cóng dẫn đến hệ thống mao mạch ở chân bị co lại, kém lưu thông máu. Nếu thời tiết lạnh kéo dài từ 3 – 5 ngày thì hệ thống mao mạch ở chân trâu bò sẽ bị tắc nghẽn dẫn tới bệnh cước chân.

Dấu hiệu nhận biết

Ở giai đoạn mới mắc bệnh cước chân chân trâu bò chỉ bị sưng nhẹ và di chuyển chậm chạp, khập khiễng. Nếu không được điều trị kịp thời thì chân trâu bò lúc này sẽ có triệu chứng bị phù nề, sưng tấy, nhiều vết tím đỏ hoặc vết nứt da, rỉ nước màu vàng, nếu bà con ấn tay vào chỗ sưng khi bỏ tay ra sẽ thấy rõ vết lõm sâu là do hệ thống mạch máu ở vùng bàn chân đã bị tắc làm cho vùng da xung quanh móng và bàn chân bị hoại tử nặng.


Bệnh cước chân ở trâu bò

Do đó khi phát hiện thấy những triệu chứng đầu tiên chân trâu bò bị sưng, phù nề bà con cần phải có biện pháp xử lý ngay, khắc phục càng sớm càng tốt thì bệnh càng dễ điều trị và nhanh khỏi.

Cách phòng bệnh

Để đề phòng bệnh này khi nhiệt độ dưới 12 độ C bà con không nên thả trâu bò ở ngoài, không bắt trâu bò làm việc ngoài ra cần chăm sóc nuôi dưỡng để nâng cao sức đề kháng cho trâu bò.

Luôn giữ chuồng trại được khô ráo, sạch sẽ, che chắn kín gió, giữ ấm cho trâu bò và đảm bảo vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi.

Thường xuyên vệ sinh chuồng trại nuôi bò

Dự trữ thức ăn như rơm, cỏ khô để cho trâu bò ăn uống đầy đủ và bổ sung thêm các loại thức ăn tinh như cám gạo, bột ngô, sắn với lượng thức ăn tinh khoảng 2kg/ngày.

Dùng các vật liệu để giữ ấm cho gia súc như bao tải hoặc có thể tăng nhiệt độ của chuồng trại lên bằng cách đốt lửa sưởi ấm cho trâu bò. Bà con lưu ý khi đốt lửa sưởi ấm cần chuẩn bị ống thông khói để trâu bò không bị ngạt.

Tiêm phòng đầy đủ cho trâu bò hàng năm và tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu bò trước mùa mưa rét. Định kỳ kiểm tra vệ sinh khử trùng chuồng trại và môi trường chăn nuôi.

Áp dụng các biện pháp phòng tránh đúng đắn sẽ giúp bà con loại trừ được nguy cơ mắc bệnh cước chân cho đàn trâu bò của gia đình mình nhất là trong điều kiện khắc nghiệt của mùa đông ở các tỉnh phía Bắc.

Cách điều trị

Nếu bệnh mới xuất hiện bà con cần rửa sạch, lau khô chân trâu bò, dùng gừng, riêng giã nhỏ rồi sao nóng lên cho vào túi vải chườm vào chỗ sưng của trâu bò. Hoặc bà con có thể dùng rơm rạ, bao tải…chà sát vào chỗ sưng để làm cho máu tụ tan ra, mạch máu có thể lưu thông trở lại.

Bên cạnh đó bà con còn có thể dùng cồn Methyl salicylate xoa vào chân trâu bò sau khi rửa sạch, lau khô. Không được để trâu bò nằm tiếp xúc với nền chuồng vì sẽ gây hoại tử cho phần da tiếp xúc.

Nếu chân trâu bò có chỗ bị vỡ, loét do nhiễm trùng thì bà con phải rửa sạch chỗ đó bằng dung dịch thuốc tím, sau đó rắc bột kháng khuẩn Sunfamid và bột kháng sinh Tetracyclin lên.

Trường hợp chân trâu bò có nhiều chỗ bị hoại tử thì bà con cần phải loại bỏ những phần đó ra, sau đó tiếp tục cho trâu bò dùng kháng sinh liên tục từ 5 – 7 ngày. Tiêm kháng sinh Pen – Strep, Ampicillin… theo liều lượng của nhà sản xuất. Ngoài ra cần phải tăng cường trợ sức cho trâu bò bằng các loại thuốc khác như khoáng POVIMIX và BTV - B.Complex Men

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Giai đoạn chuyển mùa thời tiết ẩm và mưa phùn nhiều, chính là điều kiện để bệnh viêm phổi phát triển trên đàn gia súc, đặc biệt là đối với những con gia súc nhỏ như bê và nghé thì khả năng mắc bệnh và tỷ lệ hao hụt đàn thường cao hơn rất nhiều so với trâu bò trưởng thành.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi ở bê, nghé là do thay đổi thời tiết nóng, lạnh đột ngột hoặc do môi trường lạnh, ẩm ướt, ô nhiễm gây ra. Ngoài ra bệnh viêm phổi còn do vi khuẩn gây bệnh có sẵn trong đường hô hấp của bê, ghé gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành bệnh như vi khuẩn liên cầu Streptococcus, vi khuẩn phế viêm Actinobacillus pleuropneumoniae và Mycoplasma mycodes, vi khuẩn tụ cầu Staphylococcus aureus, đây là những vi khuẩn chính gây ra bệnh viêm phổi.

Bệnh viêm phổi trên bê, ghé có thể xảy ra quanh năm nhưng thường gặp nhiều khi thời tiết thay đổi từ ấm áp sang lạnh ẩm như cuối Thu sang Đông hoặc từ lạnh sang nóng ẩm như cuối Xuân sang Hè và đặc biệt bệnh phát sinh nhiều nhất khi thời tiết lạnh ẩm như vụ Đông Xuân.

Vi khuẩn gây bệnh có thể tồn tại và phát triển trong cơ thể bê, ghé bệnh và bên ngoài môi trường vì thế khả năng lây lan rất lớn. Các con đường gây bệnh có thể gặp như lây lan qua tiếp xúc trực tiếp giữa con khỏe và con ốm dùng chung máng ăn, máng uống, hít thở không khí có chứa vi khuẩn gây bệnh.

Khi bị viêm phổi mà không được chữa trị bê, ghé có thể chết vì vậy bà con cần nắm được các triệu chứng của bệnh và thường xuyên quan sát phát hiện để có hướng điều trị kịp thời.

Dấu hiệu của bệnh

Khi mắc bệnh viêm phổi ở bê, ghé có thể có các triệu chứng như ăn kém hoặc bỏ ăn, niêm mạc mắt đỏ sẫm, chảy nước mắt, nước mũi, khó thở và thường thở bằng bụng, ho tăng dần và khi ho chảy nhiều chảy nhiều bọt khí dãi rót, sốt cao 41 – 42 độ C kèm run rẩy, co giật, đi siêu vẹo hoặc nằm một chỗ. Nếu bệnh nặng mà không được chữa trị kịp thời thì bê, ghé có thể bị chết.


Bệnh viêm phổi ở bê, nghé

Kỹ thuật phòng trị bệnh viêm phổi ở bê, nghé

Bê, ghé mới sinh ra cần phải cho bú sữa đầu vì trong sữa đầu có nhiều loại khoáng thể cần thiết giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể.

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, không để chuồng trại bị ẩm ướt.

Tiêm phòng đầy đủ hàng năm các loại bệnh truyền nhiễm có thể gây hại cho bê, ghé và đàn gia súc.

Tẩy ký sinh trùng đường tiêu hóa cho bê, ghé.

Ngoài tất cả các biện pháp trên ra bà con cần lưu ý khi xuất nhập trâu, bò cần phải kiểm dịch nghiêm ngặt, bổ sung đầy đủ khoáng, vitamin giúp cân đối dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi, định kỳ phun tiêu độc khử trùng chuồng trại từ 1 – 2 lần/tháng. Phòng và trị bệnh đúng cách sẽ giúp bà con bảo vệ bê, ghé của gia đình mình khỏi căn bệnh viêm phổi ở bê, nghé.

Cách chữa trị bệnh

Bệnh viêm phổi do vi khuẩn gây nên vì vậy biện pháp chữa trị hiệu quả nhất là sử dụng kháng sinh, bà con có thể sử dụng một trong các kháng sinh có hoạt chất như BTV - Tylan 200 (Dung dịch tiêm). Ngoài thuốc điều trị bà con cần trợ sức, trợ lực cho bê, ghé.

Sau từ 2 – 3 ngày điều trị mà bệnh không giảm thì ngoài việc sử dụng kháng sinh bà con cần tiến hành tẩy ký sinh trùng. Thông thường sau từ 3 – 5 ngày điều trị bê, ghé sẽ khỏi bệnh. Bên cạnh đó bà con cần chăm sóc tốt, cung cấp dinh dưỡng đầy đủ cho bê, ghé.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và điều trị bệnh viêm phổi ở bê, nghe

Giai đoạn chuyển mùa thời tiết ẩm và mưa phùn nhiều, chính là điều kiện để bệnh viêm phổi phát triển trên đàn gia súc, đặc biệt là đối với những con gia súc nhỏ như bê và nghé thì khả năng mắc bệnh và tỷ lệ hao hụt đàn thường cao hơn rất nhiều so với trâu bò trưởng thành.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi ở bê, nghé là do thay đổi thời tiết nóng, lạnh đột ngột hoặc do môi trường lạnh, ẩm ướt, ô nhiễm gây ra. Ngoài ra bệnh viêm phổi còn do vi khuẩn gây bệnh có sẵn trong đường hô hấp của bê, ghé gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành bệnh như vi khuẩn liên cầu Streptococcus, vi khuẩn phế viêm Actinobacillus pleuropneumoniae và Mycoplasma mycodes, vi khuẩn tụ cầu Staphylococcus aureus, đây là những vi khuẩn chính gây ra bệnh viêm phổi.

Bệnh viêm phổi trên bê, ghé có thể xảy ra quanh năm nhưng thường gặp nhiều khi thời tiết thay đổi từ ấm áp sang lạnh ẩm như cuối Thu sang Đông hoặc từ lạnh sang nóng ẩm như cuối Xuân sang Hè và đặc biệt bệnh phát sinh nhiều nhất khi thời tiết lạnh ẩm như vụ Đông Xuân.

Vi khuẩn gây bệnh có thể tồn tại và phát triển trong cơ thể bê, ghé bệnh và bên ngoài môi trường vì thế khả năng lây lan rất lớn. Các con đường gây bệnh có thể gặp như lây lan qua tiếp xúc trực tiếp giữa con khỏe và con ốm dùng chung máng ăn, máng uống, hít thở không khí có chứa vi khuẩn gây bệnh.

Khi bị viêm phổi mà không được chữa trị bê, ghé có thể chết vì vậy bà con cần nắm được các triệu chứng của bệnh và thường xuyên quan sát phát hiện để có hướng điều trị kịp thời.

Dấu hiệu của bệnh

Khi mắc bệnh viêm phổi ở bê, ghé có thể có các triệu chứng như ăn kém hoặc bỏ ăn, niêm mạc mắt đỏ sẫm, chảy nước mắt, nước mũi, khó thở và thường thở bằng bụng, ho tăng dần và khi ho chảy nhiều chảy nhiều bọt khí dãi rót, sốt cao 41 – 42 độ C kèm run rẩy, co giật, đi siêu vẹo hoặc nằm một chỗ. Nếu bệnh nặng mà không được chữa trị kịp thời thì bê, ghé có thể bị chết.


Bệnh viêm phổi ở bê, nghé

Kỹ thuật phòng trị bệnh viêm phổi ở bê, nghé

Bê, ghé mới sinh ra cần phải cho bú sữa đầu vì trong sữa đầu có nhiều loại khoáng thể cần thiết giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể.

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, không để chuồng trại bị ẩm ướt.

Tiêm phòng đầy đủ hàng năm các loại bệnh truyền nhiễm có thể gây hại cho bê, ghé và đàn gia súc.

Tẩy ký sinh trùng đường tiêu hóa cho bê, ghé.

Ngoài tất cả các biện pháp trên ra bà con cần lưu ý khi xuất nhập trâu, bò cần phải kiểm dịch nghiêm ngặt, bổ sung đầy đủ khoáng, vitamin giúp cân đối dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi, định kỳ phun tiêu độc khử trùng chuồng trại từ 1 – 2 lần/tháng. Phòng và trị bệnh đúng cách sẽ giúp bà con bảo vệ bê, ghé của gia đình mình khỏi căn bệnh viêm phổi ở bê, nghé.

Cách chữa trị bệnh

Bệnh viêm phổi do vi khuẩn gây nên vì vậy biện pháp chữa trị hiệu quả nhất là sử dụng kháng sinh, bà con có thể sử dụng một trong các kháng sinh có hoạt chất như BTV - Tylan 200 (Dung dịch tiêm). Ngoài thuốc điều trị bà con cần trợ sức, trợ lực cho bê, ghé.

Sau từ 2 – 3 ngày điều trị mà bệnh không giảm thì ngoài việc sử dụng kháng sinh bà con cần tiến hành tẩy ký sinh trùng. Thông thường sau từ 3 – 5 ngày điều trị bê, ghé sẽ khỏi bệnh. Bên cạnh đó bà con cần chăm sóc tốt, cung cấp dinh dưỡng đầy đủ cho bê, ghé.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh lao ở trâu bò một trong những loại bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm (có thể lây lan cho cả con người) thường gặp ở trâu bò nuôi lấy sữa. Khi vật nuôi mắc bệnh sẽ rất khó chữa trị nên bà con cần phải quan tâm đến vấn đề phòng bệnh để không gây thiệt hại tới kinh tế của gia đình mình.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh lao ở trâu bò là loại bệnh truyền nhiễm mãn tính do vi khuẩn lao có tên khoa học Mycobacterium Tubercula gây ra.

Vi khuẩn chủ yếu gây bệnh trên trâu bò nhưng cũng có nhiều trường hợp có thể lây lan sang cả con người (nhất là với trẻ em), bệnh còn lây qua những con gia súc, vật nuôi khác như dê, heo, cừu, mèo…

Phương thức lây truyền bệnh

Trong tự nhiên bệnh lao phổi có các con đường lây truyền như sau:

Đường hô hấp: Qua mũi, họng và phổi, mầm bệnh có sẵn trong không khí, gia súc đang khỏe mạnh khi hít phải sẽ mắc bệnh, đây chính là con đường lây bệnh nguy hiểm và chủ yếu nhất hiện nay.

Đường tiêu hóa: Qua thức ăn và nước uống.

Đường da và niêm mạc: Qua phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngoài các con đường trên bệnh lao phổi còn có thể lây truyền trực tiếp từ bò mẹ qua nhau thai, từ bò mẹ lây cho nghé con qua sữa hoặc lây qua đường phối giống.

Triệu chứng của bệnh lao ở trâu bò

Nhóm lao phổi: Trâu bò khi mắc bệnh sẽ ho dữ dội theo từng cơn, da bị khô ráp, sút cân nhanh chóng, toàn bộ lông trên cơ thể dựng đứng. Thời gian sau bị rối loạn hô hấp, ho có đờm, thở hắt nhiều, niêm mạc mũi có thể bị xuất huyết…

Nhóm lao hạch: Trâu bò khi mắc bệnh thường thì hạch cũng bị lao dẫn đến các dấu hiệu hạch cương cứng, không di động được, khi bà con sờ vào hạch sẽ cảm thấy lồi lõm, cắt hạch ra sẽ thấy hiện tượng bã đậu, các hạch dưới hàm, vai, hạch vú, hạch trước vai đều bị sưng…

Nhóm lao vú: Chủ yếu xảy ra ở những con gia súc cái lấy sữa, đặc biệt ở bò sữa năng suất cao, vú sưng, núm vú bị biến dạng, hạch vú sưng to ghồ ghề, sản lượng sữa giảm.

Nhóm lao đường tiêu hóa: Ở nhóm này bệnh thường ít gặp, thường gặp các ổ lao ở ruột có thể ở gan, gia súc bị tiêu chảy thời gian dài, hết bị tiêu chảy lại bị táo bón, bò gầy hẳn đi, rối loạn tiêu hóa, có những trường hợp đi kèm triệu chứng chướng hơi dạ cỏ, niêm mạc đường tiêu hóa bị phá hủy…

Cách phòng bệnh lao ở trâu bò

Tiến hành tiêu độc, sát trùng bằng thuốc BTV – Glutar

Bà con phòng bệnh cho bò bằng cách tiêm vắc-xin B.C.G, tiêm vào thời điểm 15 ngày tuổi. Đây là vắc-xin phòng bệnh hiệu quả nhưng hiện nay văc- xin này ít được dùng tới vì nó làm trở ngại việc chuẩn đoán bệnh lao.


Tiêm phòng bệnh lao cho trâu bò

Biện pháp phòng bệnh lao ở trâu bò tốt nhất là bà con phải thường xuyên vệ sinh chăm sóc, tăng cường nuôi dưỡng để nâng cao thể trạng và sức đề kháng của đàn bò với vi-rút gây bệnh.

Mật độ nuôi trong đàn nên điều chỉnh hợp lý, không nên nuôi với mật độ quá nhiều con trong một chuồng nuôi.

Đối với những con gia súc mới chuẩn bị cho nhập đàn thì bà con phải nhốt riêng và trong thời gian 15 ngày cần tiến hành kiểm tra xét nghiệm phản ứng

Đàn gia súc khi mắc bệnh phải cách ly và phải được giết chậm nhất trong vòng 1 tháng sau đó. Sau khi giết phải tiền hành tiêu độc, sát trùng chuồng trại bằng 1 trong các sản phẩm thuốc BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine

Thường xuyên làm vệ sinh chuồng trại, tiêu độc, khử trùng, quét dọn hàng ngày, định kỳ dùng các loại thuốc sát trùng sau: BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine, phun sương trực tiếp trong chuồng nuôi.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Triệu chứng và cách phòng trị bệnh lao trên trâu bò

Bệnh lao ở trâu bò một trong những loại bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm (có thể lây lan cho cả con người) thường gặp ở trâu bò nuôi lấy sữa. Khi vật nuôi mắc bệnh sẽ rất khó chữa trị nên bà con cần phải quan tâm đến vấn đề phòng bệnh để không gây thiệt hại tới kinh tế của gia đình mình.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh lao ở trâu bò là loại bệnh truyền nhiễm mãn tính do vi khuẩn lao có tên khoa học Mycobacterium Tubercula gây ra.

Vi khuẩn chủ yếu gây bệnh trên trâu bò nhưng cũng có nhiều trường hợp có thể lây lan sang cả con người (nhất là với trẻ em), bệnh còn lây qua những con gia súc, vật nuôi khác như dê, heo, cừu, mèo…

Phương thức lây truyền bệnh

Trong tự nhiên bệnh lao phổi có các con đường lây truyền như sau:

Đường hô hấp: Qua mũi, họng và phổi, mầm bệnh có sẵn trong không khí, gia súc đang khỏe mạnh khi hít phải sẽ mắc bệnh, đây chính là con đường lây bệnh nguy hiểm và chủ yếu nhất hiện nay.

Đường tiêu hóa: Qua thức ăn và nước uống.

Đường da và niêm mạc: Qua phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngoài các con đường trên bệnh lao phổi còn có thể lây truyền trực tiếp từ bò mẹ qua nhau thai, từ bò mẹ lây cho nghé con qua sữa hoặc lây qua đường phối giống.

Triệu chứng của bệnh lao ở trâu bò

Nhóm lao phổi: Trâu bò khi mắc bệnh sẽ ho dữ dội theo từng cơn, da bị khô ráp, sút cân nhanh chóng, toàn bộ lông trên cơ thể dựng đứng. Thời gian sau bị rối loạn hô hấp, ho có đờm, thở hắt nhiều, niêm mạc mũi có thể bị xuất huyết…

Nhóm lao hạch: Trâu bò khi mắc bệnh thường thì hạch cũng bị lao dẫn đến các dấu hiệu hạch cương cứng, không di động được, khi bà con sờ vào hạch sẽ cảm thấy lồi lõm, cắt hạch ra sẽ thấy hiện tượng bã đậu, các hạch dưới hàm, vai, hạch vú, hạch trước vai đều bị sưng…

Nhóm lao vú: Chủ yếu xảy ra ở những con gia súc cái lấy sữa, đặc biệt ở bò sữa năng suất cao, vú sưng, núm vú bị biến dạng, hạch vú sưng to ghồ ghề, sản lượng sữa giảm.

Nhóm lao đường tiêu hóa: Ở nhóm này bệnh thường ít gặp, thường gặp các ổ lao ở ruột có thể ở gan, gia súc bị tiêu chảy thời gian dài, hết bị tiêu chảy lại bị táo bón, bò gầy hẳn đi, rối loạn tiêu hóa, có những trường hợp đi kèm triệu chứng chướng hơi dạ cỏ, niêm mạc đường tiêu hóa bị phá hủy…

Cách phòng bệnh lao ở trâu bò

Tiến hành tiêu độc, sát trùng bằng thuốc BTV – Glutar

Bà con phòng bệnh cho bò bằng cách tiêm vắc-xin B.C.G, tiêm vào thời điểm 15 ngày tuổi. Đây là vắc-xin phòng bệnh hiệu quả nhưng hiện nay văc- xin này ít được dùng tới vì nó làm trở ngại việc chuẩn đoán bệnh lao.


Tiêm phòng bệnh lao cho trâu bò

Biện pháp phòng bệnh lao ở trâu bò tốt nhất là bà con phải thường xuyên vệ sinh chăm sóc, tăng cường nuôi dưỡng để nâng cao thể trạng và sức đề kháng của đàn bò với vi-rút gây bệnh.

Mật độ nuôi trong đàn nên điều chỉnh hợp lý, không nên nuôi với mật độ quá nhiều con trong một chuồng nuôi.

Đối với những con gia súc mới chuẩn bị cho nhập đàn thì bà con phải nhốt riêng và trong thời gian 15 ngày cần tiến hành kiểm tra xét nghiệm phản ứng

Đàn gia súc khi mắc bệnh phải cách ly và phải được giết chậm nhất trong vòng 1 tháng sau đó. Sau khi giết phải tiền hành tiêu độc, sát trùng chuồng trại bằng 1 trong các sản phẩm thuốc BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine

Thường xuyên làm vệ sinh chuồng trại, tiêu độc, khử trùng, quét dọn hàng ngày, định kỳ dùng các loại thuốc sát trùng sau: BTV – Glutar hoặc BTV - Iodine, phun sương trực tiếp trong chuồng nuôi.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Biểu hiện của bệnh

Trâu bò bị bệnh sẽ đi lại khó khăn, kén ăn, phân lỏng, viêm mạc mắt nhợt nhạt, thể trạng yếu ớt (do bệnh ký sinh trùng đường máu làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu khiến trâu bò chết rất nhanh).

Triệu chứng của bệnh nhẹ có thể khiến trâu bò đi lại khó khăn 1 chân, sau đó dần dần là 2 chân rồi sẽ không đi lại được nữa do độc tố ký sinh trùng đường máu tác động lên hệ thần kinh làm cho hệ thần kinh cơ bị tê liệt. Nếu như trâu bò có dấu hiệu này bà con cần phải có biện pháp điều trị kịp thời nếu không vật nuôi sẽ bị bại liệt hoàn toàn sau đó sẽ bị chết.

Khi phát hiện vật nuôi bị bệnh này nếu bà con không can thiệp kịp thời thì trâu bò sẽ bị suy kiệt sức khẻo và làm cho cả đàn gia súc xung quanh bị lây lan mầm bệnh gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế.


Phòng bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu bò

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh ký sinh trùng đường máu do 1 loại đơn bào gây nên, các đơn bào có dạng hình thoi, sinh sản vô tính bằng phương pháp nhân đôi theo chiều dọc nhiều lần.

Khi bị ruồi hoặc mòng mang mầm bệnh đốt vào trâu bò sẽ mang mầm bệnh và lây lan sang những con khác, thời gian ủ bệnh từ 4 đến 6 ngày. Trong những điều kiện thuận lợi như sức khỏe trâu bò yếu, điều kiện chăn nuôi vệ sinh kém hoặc chuyển vùng thì trâu bò sẽ phát bệnh ở thể cấp tính hoặc mãn tính.

Chính vì mầm bệnh tồn tại rất lâu khi gặp điều kiện thuận lợi có thể lây lan ra toàn đàn và làm chết trâu bò. Vì vậy mà bà con cần phải có cách phòng trị kịp thời và triệt để.

Cách điều trị bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu bò

Có thể dùng thuốc có thành phần là Diminazen aceturat, dùng các loại thuốc điều trị hòa loãng 10% bằng các dung dịch như đường Gluco hoặc nước cất, tiêm vào tĩnh mạch trâu bò, liều điều trị là từ 3 – 5 ngày, bệnh nặng thì cần điều trị trong vòng 5 ngày, bệnh nhẹ thì trong vòng 3 ngày.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu bò

Biểu hiện của bệnh

Trâu bò bị bệnh sẽ đi lại khó khăn, kén ăn, phân lỏng, viêm mạc mắt nhợt nhạt, thể trạng yếu ớt (do bệnh ký sinh trùng đường máu làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu khiến trâu bò chết rất nhanh).

Triệu chứng của bệnh nhẹ có thể khiến trâu bò đi lại khó khăn 1 chân, sau đó dần dần là 2 chân rồi sẽ không đi lại được nữa do độc tố ký sinh trùng đường máu tác động lên hệ thần kinh làm cho hệ thần kinh cơ bị tê liệt. Nếu như trâu bò có dấu hiệu này bà con cần phải có biện pháp điều trị kịp thời nếu không vật nuôi sẽ bị bại liệt hoàn toàn sau đó sẽ bị chết.

Khi phát hiện vật nuôi bị bệnh này nếu bà con không can thiệp kịp thời thì trâu bò sẽ bị suy kiệt sức khẻo và làm cho cả đàn gia súc xung quanh bị lây lan mầm bệnh gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế.


Phòng bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu bò

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh ký sinh trùng đường máu do 1 loại đơn bào gây nên, các đơn bào có dạng hình thoi, sinh sản vô tính bằng phương pháp nhân đôi theo chiều dọc nhiều lần.

Khi bị ruồi hoặc mòng mang mầm bệnh đốt vào trâu bò sẽ mang mầm bệnh và lây lan sang những con khác, thời gian ủ bệnh từ 4 đến 6 ngày. Trong những điều kiện thuận lợi như sức khỏe trâu bò yếu, điều kiện chăn nuôi vệ sinh kém hoặc chuyển vùng thì trâu bò sẽ phát bệnh ở thể cấp tính hoặc mãn tính.

Chính vì mầm bệnh tồn tại rất lâu khi gặp điều kiện thuận lợi có thể lây lan ra toàn đàn và làm chết trâu bò. Vì vậy mà bà con cần phải có cách phòng trị kịp thời và triệt để.

Cách điều trị bệnh ký sinh trùng đường máu ở trâu bò

Có thể dùng thuốc có thành phần là Diminazen aceturat, dùng các loại thuốc điều trị hòa loãng 10% bằng các dung dịch như đường Gluco hoặc nước cất, tiêm vào tĩnh mạch trâu bò, liều điều trị là từ 3 – 5 ngày, bệnh nặng thì cần điều trị trong vòng 5 ngày, bệnh nhẹ thì trong vòng 3 ngày.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh tiêu mao trùng xảy ra ở hầu hết tất cả các vùng chăn nuôi tại Việt Nam từ Đồng Bằng, Miền Núi cho tới Trung Du thậm chí ở cả vùng Biển. Trong đó ở miền vùng Núi loại bệnh này chiếm tỉ lệ cao nhất do các loại côn trùng như ruồi, muỗi gây bệnh nhiều. Bên cạnh đó do tập quán chăn nuôi của bà con dân tộc vùng Núi không tốt như ở các vùng khác nên bệnh tiên mao trùng ở vùng này chiếm tỉ lệ cao nhất sau đó đến vùng Trung Du và cuối cùng là vùng Đồng Bằng.

Dấu hiệu nhận biết

Khi trâu bò mắc bệnh tiêu mao trùng thường xảy ra ở 2 thể, thứ nhất là thể cấp tính, thứ hai là thể mãn tính.

Ở thể cấp tính trâu bò thường sốt cao từ 41 – 41,7 độ C với các triệu chứng thần kinh như gã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn, trâu bò bệnh sẽ chết rất nhanh sau từ 7 – 15 ngày.

Ở thể mãn tính các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn và bệnh kéo dài từ 1 – 2 tháng, con vật ngày càng gầy, da khô mốc, niêm mạc mắt tụ máu màu đỏ tía, đôi khi có chấm máu, chảy nước mắt và mắt có nhiều gỉ đặc đi theo, viêm màng mắt vàng nhạt hay sẫm, sức khỏe suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại, đi phân táo có có lẫn máu hoặc đi tháo lỏng mùi thối khắm, có khi con vật đi ngoài ra cả lòng ruột nát từng đoạn, thường thấy bị phù ở cổ, hầu, ức, nách, chân, háng.

Trường hợp bị nặng con vật đột ngột sốt cao, bụng trướng to rồi lăn ra chết.


Bệnh tiêu mao trùng ở trâu bò

Phòng và điều trị bệnh

Bà con cần phải vệ sinh xung quanh chuồng trại bằng cách phát quang bờ bụi, lấp vũng nước, cống rãnh quanh chuồng để côn trùng gây bệnh không có nơi cư trú và phát triển được để phòng trành bệnh tiêu mao trùng.

Thường xuyên kiểm tra chăm sóc đàn bò, dọn phân, rác quanh chuồng, lắp các hố nước, vũng nước để côn trùng không gây bệnh được.

Kiểm tra máu trâu bò thường xuyên định kỳ 6 tháng/lần ở những vùng có bệnh để phát hiện kịp và có biện pháp ngăn chặn.

Ở những vùng có tỉ lệ đàn trâu bò bị nhiễm bệnh tiên mao trùng cao từ 10 – 15% so với toàn đàn bà con dùng Diminazen aceturat để tiêm phòng bệnh cho đàn trâu bò. Nên tiêm vào hai thời điểm trong năm từ tháng 4 – 5 (khi ruồi mòng phát triển mạnh) và tháng 9 – 10 (thời điểm này trời tiết trở lạnh nên sức đề kháng của trâu bò bị giảm dẫn đến dễ bị nhiễm bệnh).

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh tiêu mao trùng ở trâu bò

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh tiêu mao trùng xảy ra ở hầu hết tất cả các vùng chăn nuôi tại Việt Nam từ Đồng Bằng, Miền Núi cho tới Trung Du thậm chí ở cả vùng Biển. Trong đó ở miền vùng Núi loại bệnh này chiếm tỉ lệ cao nhất do các loại côn trùng như ruồi, muỗi gây bệnh nhiều. Bên cạnh đó do tập quán chăn nuôi của bà con dân tộc vùng Núi không tốt như ở các vùng khác nên bệnh tiên mao trùng ở vùng này chiếm tỉ lệ cao nhất sau đó đến vùng Trung Du và cuối cùng là vùng Đồng Bằng.

Dấu hiệu nhận biết

Khi trâu bò mắc bệnh tiêu mao trùng thường xảy ra ở 2 thể, thứ nhất là thể cấp tính, thứ hai là thể mãn tính.

Ở thể cấp tính trâu bò thường sốt cao từ 41 – 41,7 độ C với các triệu chứng thần kinh như gã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn, trâu bò bệnh sẽ chết rất nhanh sau từ 7 – 15 ngày.

Ở thể mãn tính các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn và bệnh kéo dài từ 1 – 2 tháng, con vật ngày càng gầy, da khô mốc, niêm mạc mắt tụ máu màu đỏ tía, đôi khi có chấm máu, chảy nước mắt và mắt có nhiều gỉ đặc đi theo, viêm màng mắt vàng nhạt hay sẫm, sức khỏe suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại, đi phân táo có có lẫn máu hoặc đi tháo lỏng mùi thối khắm, có khi con vật đi ngoài ra cả lòng ruột nát từng đoạn, thường thấy bị phù ở cổ, hầu, ức, nách, chân, háng.

Trường hợp bị nặng con vật đột ngột sốt cao, bụng trướng to rồi lăn ra chết.


Bệnh tiêu mao trùng ở trâu bò

Phòng và điều trị bệnh

Bà con cần phải vệ sinh xung quanh chuồng trại bằng cách phát quang bờ bụi, lấp vũng nước, cống rãnh quanh chuồng để côn trùng gây bệnh không có nơi cư trú và phát triển được để phòng trành bệnh tiêu mao trùng.

Thường xuyên kiểm tra chăm sóc đàn bò, dọn phân, rác quanh chuồng, lắp các hố nước, vũng nước để côn trùng không gây bệnh được.

Kiểm tra máu trâu bò thường xuyên định kỳ 6 tháng/lần ở những vùng có bệnh để phát hiện kịp và có biện pháp ngăn chặn.

Ở những vùng có tỉ lệ đàn trâu bò bị nhiễm bệnh tiên mao trùng cao từ 10 – 15% so với toàn đàn bà con dùng Diminazen aceturat để tiêm phòng bệnh cho đàn trâu bò. Nên tiêm vào hai thời điểm trong năm từ tháng 4 – 5 (khi ruồi mòng phát triển mạnh) và tháng 9 – 10 (thời điểm này trời tiết trở lạnh nên sức đề kháng của trâu bò bị giảm dẫn đến dễ bị nhiễm bệnh).

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Theo các nhà chuyên môn thì bệnh viêm vú ở bò sữa thường có bốn thể cơ bản gồm thể lâm sàng, thể cấp tính, thể mãn tính và thể tiềm ẩn. Trong đó thể tiềm ẩn rất phổ biến và rất khó để bà con nhận biết bằng mắt thường vì thể này bệnh không biểu hiện ra bên ngoài bằng những triệu chứng cụ thể.

Nguyên nhân gây bệnh

Chuồng trại vệ sinh kém, không thông thoáng và ánh sáng thiếu, mật độ nuôi cao.

Phương pháp vắt sữa, kỹ thuật vắt sữa không đúng, thời gian và số lần vắt, áp lực vắt không đảm bảo.

Người vắt sữa, nơi vắt sữa, dụng cụ vắt sữa không vệ sinh.

Sự thay đổi khẩu phần ăn quá nhanh, tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần ăn quá nhiều, thiếu Vitamin và khoáng chất, thức ăn không hợp vệ sinh.

Ngoài ra các tác động gián tiếp như tiếng ồn, thái độ chăm sóc, stress nhiệt… cũng làm giảm sức đề kháng và tăng nguy cơ mắc bệnh viêm vú trên bò sữa.

Nhìn chung thực thế với quy mô nuôi nông hộ, bà con rất khó để đáp ứng các yêu cầu về vị trí, kích thước hoặc kết cấu chuồng trại nuôi bò. Dưới hình thức nuôi nhốt hoàn toàn và số lượng đàn bò liên tục tăng, người nuôi hầu như không đáp ứng đủ nhu cầu về không gian cho bò sữa phát triển.

Điều kiện chuồng trại khô ráo, sạch sẽ cũng chưa được bà con quan tâm nhiều, nhất là trong mùa mưa. Mặt khác quy trình vắt sữa bò là một quá trình đòi hỏi vệ sinh và kỹ thuật cao trong khi ở một số nông hộ bà con vắt sữa bò dựa theo kinh nghiệm chưa quan tâm đúng mức.


Bệnh viêm vú ở bò sữa

Chính vì vậy các trường hợp bò được xác định là nhiễm bệnh viêm vú chưa đáng kể nhưng nguy cơ tiềm ẩn và phát sinh bệnh này hiện nay rất cao. Để hạn chế bò bị viêm vú bà con cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các kỹ thuật phòng tránh, nhất là trong quá trình vắt sữa.

Cách phòng bệnh viêm vú

Để phòng tránh bệnh viêm vú ở bò sữa bà con cần làm tốt công tác chọn giống, thực hiện tốt các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y, tiêm phòng đầy đủ các bệnh truyền nhiễm cho bò.

Trong khẩu phần ăn của bò cần đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng, thức ăn phải sạch sẽ, không nhiễm vi trùng, nấm mốc…

Bà con chú ý đến việc bổ sung Vitamin E và Celemium trong khẩu phần thức ăn để giúp cải thiện hệ thống miễn dịch cho bò.

Cách điều trị bệnh

Khi bà con phát hiện bệnh viêm vú ở bò sữa cần phải cách ly chúng ra khỏi đàn, giảm khẩu phần thức ăn tinh, thức ăn chứa nhiều nhựa, nhiều nước và thức ăn có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao khi bò bị viêm vú.

Tăng cường vắt sữa từ 3 – 5 lần/ngày để thải trừ mầm bệnh, thường xuyên xoa bóp bầu vú bị viêm bằng khăn sạch nhúng vào nước ấm, vắt kiệt sữa bị viêm ra ngoài, vệ sinh bầu vú và chuồng trại sạch sẽ.

Sử dụng các loại thuốc kháng sinh để tăng sức đề kháng cho bò.

Sử dụng BTV – Kích sữa để ổn định thành phần dinh dưỡng tăng tiết sữa, tăng sức đề kháng và kháng viêm.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh viêm vú ở bò sữa

Theo các nhà chuyên môn thì bệnh viêm vú ở bò sữa thường có bốn thể cơ bản gồm thể lâm sàng, thể cấp tính, thể mãn tính và thể tiềm ẩn. Trong đó thể tiềm ẩn rất phổ biến và rất khó để bà con nhận biết bằng mắt thường vì thể này bệnh không biểu hiện ra bên ngoài bằng những triệu chứng cụ thể.

Nguyên nhân gây bệnh

Chuồng trại vệ sinh kém, không thông thoáng và ánh sáng thiếu, mật độ nuôi cao.

Phương pháp vắt sữa, kỹ thuật vắt sữa không đúng, thời gian và số lần vắt, áp lực vắt không đảm bảo.

Người vắt sữa, nơi vắt sữa, dụng cụ vắt sữa không vệ sinh.

Sự thay đổi khẩu phần ăn quá nhanh, tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần ăn quá nhiều, thiếu Vitamin và khoáng chất, thức ăn không hợp vệ sinh.

Ngoài ra các tác động gián tiếp như tiếng ồn, thái độ chăm sóc, stress nhiệt… cũng làm giảm sức đề kháng và tăng nguy cơ mắc bệnh viêm vú trên bò sữa.

Nhìn chung thực thế với quy mô nuôi nông hộ, bà con rất khó để đáp ứng các yêu cầu về vị trí, kích thước hoặc kết cấu chuồng trại nuôi bò. Dưới hình thức nuôi nhốt hoàn toàn và số lượng đàn bò liên tục tăng, người nuôi hầu như không đáp ứng đủ nhu cầu về không gian cho bò sữa phát triển.

Điều kiện chuồng trại khô ráo, sạch sẽ cũng chưa được bà con quan tâm nhiều, nhất là trong mùa mưa. Mặt khác quy trình vắt sữa bò là một quá trình đòi hỏi vệ sinh và kỹ thuật cao trong khi ở một số nông hộ bà con vắt sữa bò dựa theo kinh nghiệm chưa quan tâm đúng mức.


Bệnh viêm vú ở bò sữa

Chính vì vậy các trường hợp bò được xác định là nhiễm bệnh viêm vú chưa đáng kể nhưng nguy cơ tiềm ẩn và phát sinh bệnh này hiện nay rất cao. Để hạn chế bò bị viêm vú bà con cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các kỹ thuật phòng tránh, nhất là trong quá trình vắt sữa.

Cách phòng bệnh viêm vú

Để phòng tránh bệnh viêm vú ở bò sữa bà con cần làm tốt công tác chọn giống, thực hiện tốt các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y, tiêm phòng đầy đủ các bệnh truyền nhiễm cho bò.

Trong khẩu phần ăn của bò cần đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng, thức ăn phải sạch sẽ, không nhiễm vi trùng, nấm mốc…

Bà con chú ý đến việc bổ sung Vitamin E và Celemium trong khẩu phần thức ăn để giúp cải thiện hệ thống miễn dịch cho bò.

Cách điều trị bệnh

Khi bà con phát hiện bệnh viêm vú ở bò sữa cần phải cách ly chúng ra khỏi đàn, giảm khẩu phần thức ăn tinh, thức ăn chứa nhiều nhựa, nhiều nước và thức ăn có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao khi bò bị viêm vú.

Tăng cường vắt sữa từ 3 – 5 lần/ngày để thải trừ mầm bệnh, thường xuyên xoa bóp bầu vú bị viêm bằng khăn sạch nhúng vào nước ấm, vắt kiệt sữa bị viêm ra ngoài, vệ sinh bầu vú và chuồng trại sạch sẽ.

Sử dụng các loại thuốc kháng sinh để tăng sức đề kháng cho bò.

Sử dụng BTV – Kích sữa để ổn định thành phần dinh dưỡng tăng tiết sữa, tăng sức đề kháng và kháng viêm.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh dịch tả một loại bệnh do virus gây ra, bệnh thường xảy ra vào đầu mùa thu và dễ lây lan nhanh chóng trên diện rộng gây thiệt hại lớn cho bà con chăn nuôi. Vậy cách phòng và điều trị bệnh như thế nào mời bà con tham khảo qua bài viết dưới đây.

Nguyên nhân gây bệnh

Dịch tả là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh, do một loại virus gây ra. Bệnh phát quanh năm nhưng chủ yếu tập trung vào mùa hè và đầu mùa thu. Virus dịch tả thích nghi trên niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc ống tiêu hóa dẫn đến hiện tượng hoại tử, viêm, tụ máu và loét niêm mạc ruột.

Phương thức lan truyền bệnh

Bệnh có thể lây lan trực tiếp hoặc gián tiếp từ trâu, bò bị bệnh sang trâu, bò khỏe mạnh qua tiếp xúc hoặc nuôi nhốt chung truồng, chăn thả trên cùng một bãi chăn, qua dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi hoặc do ăn phải thức ăn, nước uống có chứa mầm bệnh…


Dịch tả ở trâu bò

Triệu chứng của bệnh

Triệu chứng đặc trưng của bệnh dịch tả là con vật sốt cao, tiêu chảy dữ dội, viêm lở miệng, hoại tử bạch huyết, trâu bò khi mắc bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Khi trâu, bò có những triệu chứng này bà con không nên tự xử lý mà phải liên hệ ngay với bác sĩ thú y.

Thời gian ủ bệnh thông thường từ 3 – 9 ngày, có những trường hợp kéo dài từ 12 – 15 ngày.

Cách phòng bệnh

Khi chưa có dịch

Bà con tiêm vắc-xin phòng bệnh cho cả đàn định kỳ mỗi năm từ 1 – 2 lần, nhất là những vùng có nguy cơ mắc bệnh cao, vùng xung quanh các ổ dịch cũ, vùng đã từng xảy ra dịch bệnh.

Vệ sinh môi trường xung quanh chuồng trại, tiêu độc khử trùng định kỳ, tăng cường vệ sinh đàn gia súc của gia đình để dịch bệnh không có cơ hội phát sinh.

Khi có dịch

Bà con cần phải kiểm tra và phát hiện ra những con trâu, bò bị bệnh để nhanh chóng cách ly ra khỏi đàn.

Tiêm huyết thanh dịch tả cho trâu bò nghi mắc bệnh.

Tiến hành công bố dịch và nghiêm cấm hoàn toàn việc giết mổ, vận chuyển gia súc.

Đối với những con trâu bò bị chết do bệnh dịch tả cần phải chôn sâu 2m, đổ vôi sát trùng và lấp đất cẩn thận.

Vệ sinh, khử trùng chuồng trại bằng dung dịch nước vôi 10% hoặc BTV - Glutar và để trống chuồng 30 ngày.

Cách trị bệnh

Hiện nay ở Việt Nam bệnh dịch tả chưa có thuốc đặc trị nên bà con chỉ có thể áp dụng một số biện pháp điều trị các triệu chứng của bệnh khi chúng mới xuất hiện

Trường hợp bệnh mới phát, trâu bò chưa bị ỉa chảy, có thể điều trị bằng cách tiêm huyết thanh dịch tả với liều lượng từ 60 – 100ml/ngày/con (đối với bê, nghé dưới 100kg), từ 100 – 160ml/ngày/con (đối với bò từ 100 – 200kg) và 160 – 200ml/ngày/con (đối với bò từ 200kg trở lên).

Khi trâu bò bị sốt cao thì bà con sử dụng thuốc BTV - Nagin để tiêm dưới da, với liều lượng 10ml/ngày.

Khi trâu bò bị tiêu chảy dữ dội, mất nước, bà con cần truyền tĩnh mạch dung dịch sinh lý mặn, sinh lý ngọt đẳng trương với liều 1000ml cho 100kg khối lượng.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và điều trị dịch tả ở trâu bò

Bệnh dịch tả một loại bệnh do virus gây ra, bệnh thường xảy ra vào đầu mùa thu và dễ lây lan nhanh chóng trên diện rộng gây thiệt hại lớn cho bà con chăn nuôi. Vậy cách phòng và điều trị bệnh như thế nào mời bà con tham khảo qua bài viết dưới đây.

Nguyên nhân gây bệnh

Dịch tả là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan nhanh, do một loại virus gây ra. Bệnh phát quanh năm nhưng chủ yếu tập trung vào mùa hè và đầu mùa thu. Virus dịch tả thích nghi trên niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc ống tiêu hóa dẫn đến hiện tượng hoại tử, viêm, tụ máu và loét niêm mạc ruột.

Phương thức lan truyền bệnh

Bệnh có thể lây lan trực tiếp hoặc gián tiếp từ trâu, bò bị bệnh sang trâu, bò khỏe mạnh qua tiếp xúc hoặc nuôi nhốt chung truồng, chăn thả trên cùng một bãi chăn, qua dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi hoặc do ăn phải thức ăn, nước uống có chứa mầm bệnh…


Dịch tả ở trâu bò

Triệu chứng của bệnh

Triệu chứng đặc trưng của bệnh dịch tả là con vật sốt cao, tiêu chảy dữ dội, viêm lở miệng, hoại tử bạch huyết, trâu bò khi mắc bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Khi trâu, bò có những triệu chứng này bà con không nên tự xử lý mà phải liên hệ ngay với bác sĩ thú y.

Thời gian ủ bệnh thông thường từ 3 – 9 ngày, có những trường hợp kéo dài từ 12 – 15 ngày.

Cách phòng bệnh

Khi chưa có dịch

Bà con tiêm vắc-xin phòng bệnh cho cả đàn định kỳ mỗi năm từ 1 – 2 lần, nhất là những vùng có nguy cơ mắc bệnh cao, vùng xung quanh các ổ dịch cũ, vùng đã từng xảy ra dịch bệnh.

Vệ sinh môi trường xung quanh chuồng trại, tiêu độc khử trùng định kỳ, tăng cường vệ sinh đàn gia súc của gia đình để dịch bệnh không có cơ hội phát sinh.

Khi có dịch

Bà con cần phải kiểm tra và phát hiện ra những con trâu, bò bị bệnh để nhanh chóng cách ly ra khỏi đàn.

Tiêm huyết thanh dịch tả cho trâu bò nghi mắc bệnh.

Tiến hành công bố dịch và nghiêm cấm hoàn toàn việc giết mổ, vận chuyển gia súc.

Đối với những con trâu bò bị chết do bệnh dịch tả cần phải chôn sâu 2m, đổ vôi sát trùng và lấp đất cẩn thận.

Vệ sinh, khử trùng chuồng trại bằng dung dịch nước vôi 10% hoặc BTV - Glutar và để trống chuồng 30 ngày.

Cách trị bệnh

Hiện nay ở Việt Nam bệnh dịch tả chưa có thuốc đặc trị nên bà con chỉ có thể áp dụng một số biện pháp điều trị các triệu chứng của bệnh khi chúng mới xuất hiện

Trường hợp bệnh mới phát, trâu bò chưa bị ỉa chảy, có thể điều trị bằng cách tiêm huyết thanh dịch tả với liều lượng từ 60 – 100ml/ngày/con (đối với bê, nghé dưới 100kg), từ 100 – 160ml/ngày/con (đối với bò từ 100 – 200kg) và 160 – 200ml/ngày/con (đối với bò từ 200kg trở lên).

Khi trâu bò bị sốt cao thì bà con sử dụng thuốc BTV - Nagin để tiêm dưới da, với liều lượng 10ml/ngày.

Khi trâu bò bị tiêu chảy dữ dội, mất nước, bà con cần truyền tĩnh mạch dung dịch sinh lý mặn, sinh lý ngọt đẳng trương với liều 1000ml cho 100kg khối lượng.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh viêm màng phổi ở trâu bò có thể xảy ra quanh năm, tuy nhiên ở các tháng lạnh hoặc thời tiết thay đổi đột ngột nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn.

Nguyên nhân

Bệnh viêm màng phổi truyền nhiễm (CBPP) do Mycoplasma mycoides subsp. mycoides SC gây ra. Mycoplasma là những vi khuẩn không có vách tế bào cho nên chúng đa hình thái và đề kháng với kháng sinh thuộc nhóm beta-lactamine như Penicilline.

Ðường lây truyền

Trong điều kiện tự nhiên, bệnh truyền trực tiếp từ vật nhiễm sang bò nhạy cảm do tiếp xúc qua hơi thở, ho. Bò tiếp xúc với mầm bệnh nếu nhạy cảm có thể phát triển thành bệnh ít nhất sau 6 tháng. Trong ổ dịch có khoảng 40% bò phơi nhiễm bị phát bệnh, tỷ lệ chết 10 - 70% và bệnh lây truyền chậm.

Triệu chứng của bệnh viêm màng phổi

Khi xuất hiện ổ dịch, có khoảng 33% bò sẽ có triệu chứng, 46% nhiễm nhưng không có triệu chứng, 21% đề kháng. Thời gian ủ bệnh khá dài, 3 - 6 tháng, với bò nhạy cảm cao thì triệu chứng phát triển trong vòng 10 - 14 ngày. Bệnh phát triển với 3 thể:

Thể cấp tính: Bệnh viêm màng phổi là bệnh phổ biến và tỷ lệ tử vong cao, bò còn sống cũng gầy sút. Thân nhiệt bò đột ngột tăng cao, bỏ ăn, lượng sữa giảm ở bò cho sữa. Bò thở nhanh và sâu, sau đó ho thường xuyên, cuối cùng là ho khô, có dịch mủ. Bò cảm thấy đau và khó chịu khi hô hấp. Ở thể này, bò thường cúi đầu thấp hơn, lưng cong hình vòm, miệng há to để dễ thở. Bò bị giảm cân, trở nên suy kiệt, ngừng nhai lại, có thể bị bại chân, không đứng được trước khi chết. Phù nề hoặc sưng phát triển ở họng, yếm bò. Từ lúc xuất hiện dấu hiệu đầu tiên đến khi chết thời gian có thể kéo dài 2 - 5 tuần.

Thể quá cấp tính: Bò xuất hiện nhiều triệu chứng như thể cấp tính nhưng triệu chứng viêm phổi trầm trọng hơn và thường chết sau 1 - 3 tuần.

Thể mãn tính: Bò thường không có triệu chứng bệnh, chúng trở thành vật mang trùng. Ở thể này không gây chết trong thời gian dài, tuy nhiên, khi gặp điều kiện bất thường sẽ làm phát triển thành thể cấp tính.


Bệnh viêm màng phổi ở trâu bò

Bệnh tích

Chủ yếu tập trung ở phổi. Màng phổi bị viêm tăng sinh dày lên, có nhiều sợi tơ huyết (fibrin) làm dính màng phổi vào lồng ngực ở một bên hoặc cả hai bên. Giữa màng phổi và xoang ngực có chứa nhiều dịch vàng, các thủy phổi xuất hiện đốm màu xám hoặc màu đỏ giống như gan động vật. Một số trường hợp bệnh mãn tính, vùng phổi bị hoại tử.

Phòng, trị bệnh viêm màng phổi

Trong quá trình nuôi cần tránh các yếu tố gây stress cho bò. Quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng tốt (khi thời tiết quá khô nóng thì che chắn cho bò hoặc tìm chỗ trú có bóng mát), không thay đổi khẩu phần quá đột ngột, bổ sung thức ăn tinh trong khẩu phần nhất là bò lấy sữa để phòng bệnh viêm màng phổi ở trâu bò.

Bổ sung Premix vitamin, khoáng để tăng cường sức khoẻ cho bò, tránh thiếu chất, có thể sử dụng bột Premix qua ủ chua, kiềm hóa thức ăn thô xanh, thô khô.

Thực hiện tiêu độc khử trùng chuồng trại triệt để. Bố trí hố tiêu độc ở mỗi cửa chuồng trại (bằng vôi bột hoặc dung dịch thuốc sát trùng). Ðịnh kỳ tiêu độc mỗi tuần hoặc 2 - 4 tuần /lần, khi có nguy cơ dịch thực hiện mỗi ngày 1 lần (liên tục 3 - 7 ngày).

Khi phát hiện có bò bị bệnh viêm màng phổi, cần tiến hành cách ly ngay với nguồn lây truyền bệnh, tránh khách tham quan, không mượn dụng cụ, xe cộ ở các trại chăn nuôi khác.

Thực hiện tiêm phòng vaccine các loại bệnh đã có vaccine: Tụ huyết trùng trâu bò: Tiêm lần đầu cho bò trên 4 tháng tuổi, nên lập lại liều thứ 2 sau đó 4 tuần để tăng cường miễn dịch, tái chủng mỗi 6 tháng/lần. Ở những nước có dịch địa phương CBPP thì tiến hành tiêm vaccine CBPP. Lựa chọn địa chỉ cung cấp uy tín để có hiệu quả tốt nhất.

Thường xuyên kiểm tra ký sinh trùng (nội, ngoại ký sinh) bằng cách bố trí tẩy giun sán định kỳ chặt chẽ.

Ngoài ra, sử dụng một số loại kháng sinh như BTV – Flodox 1ml/10kg TT, ngày 1 lần, liên tục 3 - 5 ngày. Lưu ý khi dùng kết hợp với các loại thuốc trợ sức như và thuốc bổ liên tục cho bò như Kháng thể, BTV - Gluco K.CBTV - B.Complex men

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh viêm màng phổi ở trâu bò

Bệnh viêm màng phổi ở trâu bò có thể xảy ra quanh năm, tuy nhiên ở các tháng lạnh hoặc thời tiết thay đổi đột ngột nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn.

Nguyên nhân

Bệnh viêm màng phổi truyền nhiễm (CBPP) do Mycoplasma mycoides subsp. mycoides SC gây ra. Mycoplasma là những vi khuẩn không có vách tế bào cho nên chúng đa hình thái và đề kháng với kháng sinh thuộc nhóm beta-lactamine như Penicilline.

Ðường lây truyền

Trong điều kiện tự nhiên, bệnh truyền trực tiếp từ vật nhiễm sang bò nhạy cảm do tiếp xúc qua hơi thở, ho. Bò tiếp xúc với mầm bệnh nếu nhạy cảm có thể phát triển thành bệnh ít nhất sau 6 tháng. Trong ổ dịch có khoảng 40% bò phơi nhiễm bị phát bệnh, tỷ lệ chết 10 - 70% và bệnh lây truyền chậm.

Triệu chứng của bệnh viêm màng phổi

Khi xuất hiện ổ dịch, có khoảng 33% bò sẽ có triệu chứng, 46% nhiễm nhưng không có triệu chứng, 21% đề kháng. Thời gian ủ bệnh khá dài, 3 - 6 tháng, với bò nhạy cảm cao thì triệu chứng phát triển trong vòng 10 - 14 ngày. Bệnh phát triển với 3 thể:

Thể cấp tính: Bệnh viêm màng phổi là bệnh phổ biến và tỷ lệ tử vong cao, bò còn sống cũng gầy sút. Thân nhiệt bò đột ngột tăng cao, bỏ ăn, lượng sữa giảm ở bò cho sữa. Bò thở nhanh và sâu, sau đó ho thường xuyên, cuối cùng là ho khô, có dịch mủ. Bò cảm thấy đau và khó chịu khi hô hấp. Ở thể này, bò thường cúi đầu thấp hơn, lưng cong hình vòm, miệng há to để dễ thở. Bò bị giảm cân, trở nên suy kiệt, ngừng nhai lại, có thể bị bại chân, không đứng được trước khi chết. Phù nề hoặc sưng phát triển ở họng, yếm bò. Từ lúc xuất hiện dấu hiệu đầu tiên đến khi chết thời gian có thể kéo dài 2 - 5 tuần.

Thể quá cấp tính: Bò xuất hiện nhiều triệu chứng như thể cấp tính nhưng triệu chứng viêm phổi trầm trọng hơn và thường chết sau 1 - 3 tuần.

Thể mãn tính: Bò thường không có triệu chứng bệnh, chúng trở thành vật mang trùng. Ở thể này không gây chết trong thời gian dài, tuy nhiên, khi gặp điều kiện bất thường sẽ làm phát triển thành thể cấp tính.


Bệnh viêm màng phổi ở trâu bò

Bệnh tích

Chủ yếu tập trung ở phổi. Màng phổi bị viêm tăng sinh dày lên, có nhiều sợi tơ huyết (fibrin) làm dính màng phổi vào lồng ngực ở một bên hoặc cả hai bên. Giữa màng phổi và xoang ngực có chứa nhiều dịch vàng, các thủy phổi xuất hiện đốm màu xám hoặc màu đỏ giống như gan động vật. Một số trường hợp bệnh mãn tính, vùng phổi bị hoại tử.

Phòng, trị bệnh viêm màng phổi

Trong quá trình nuôi cần tránh các yếu tố gây stress cho bò. Quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng tốt (khi thời tiết quá khô nóng thì che chắn cho bò hoặc tìm chỗ trú có bóng mát), không thay đổi khẩu phần quá đột ngột, bổ sung thức ăn tinh trong khẩu phần nhất là bò lấy sữa để phòng bệnh viêm màng phổi ở trâu bò.

Bổ sung Premix vitamin, khoáng để tăng cường sức khoẻ cho bò, tránh thiếu chất, có thể sử dụng bột Premix qua ủ chua, kiềm hóa thức ăn thô xanh, thô khô.

Thực hiện tiêu độc khử trùng chuồng trại triệt để. Bố trí hố tiêu độc ở mỗi cửa chuồng trại (bằng vôi bột hoặc dung dịch thuốc sát trùng). Ðịnh kỳ tiêu độc mỗi tuần hoặc 2 - 4 tuần /lần, khi có nguy cơ dịch thực hiện mỗi ngày 1 lần (liên tục 3 - 7 ngày).

Khi phát hiện có bò bị bệnh viêm màng phổi, cần tiến hành cách ly ngay với nguồn lây truyền bệnh, tránh khách tham quan, không mượn dụng cụ, xe cộ ở các trại chăn nuôi khác.

Thực hiện tiêm phòng vaccine các loại bệnh đã có vaccine: Tụ huyết trùng trâu bò: Tiêm lần đầu cho bò trên 4 tháng tuổi, nên lập lại liều thứ 2 sau đó 4 tuần để tăng cường miễn dịch, tái chủng mỗi 6 tháng/lần. Ở những nước có dịch địa phương CBPP thì tiến hành tiêm vaccine CBPP. Lựa chọn địa chỉ cung cấp uy tín để có hiệu quả tốt nhất.

Thường xuyên kiểm tra ký sinh trùng (nội, ngoại ký sinh) bằng cách bố trí tẩy giun sán định kỳ chặt chẽ.

Ngoài ra, sử dụng một số loại kháng sinh như BTV – Flodox 1ml/10kg TT, ngày 1 lần, liên tục 3 - 5 ngày. Lưu ý khi dùng kết hợp với các loại thuốc trợ sức như và thuốc bổ liên tục cho bò như Kháng thể, BTV - Gluco K.CBTV - B.Complex men

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Bệnh viêm tử cung bệnh thường xảy ra ở với trâu, bò sinh sản. gây ra ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất của vật nuôi như: mất sữa, chậm động dục trở lại, khiến cho tỷ lệ thụ thai giảm, trường hợp nặng gia súc có thể mất khả năng sinh sản, vô sinh vĩnh viễn.

1. Nguyên nhân

- Các rối loạn nội tiết như mất cân bằng estrogen/progesteron, tăng policulin, progesteron và biến đổi bệnh lý mô bào tử cung làm cho vi khuẩn có điều kiện thuận lợi để xâm nhập, tồn tại, phát triển và gây bệnh.

- Ngoài ra, sự xâm nhiễm các loại vi khuẩn, virut như: lao, xảy thai truyền nhiễm... cũng sẽ làm cho trâu, bò dễ bị viêm tử cung

- Do nhiễm vi khuẩn khi giao phối (bò đực bị viêm cơ quan sinh dục) hoặc thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vô trùng, đẻ khó phải can thiệp, sát nhau, giãn cổ tử cung, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không vệ sinh… là những yếu tố thuận lợi cho mầm bệnh xâm nhập và phát triển ở cổ tử cung gây nên bệnh viêm tử cung.


Bệnh viêm tử cung ở trâu bò

2. Bệnh lý và triệu chứng lâm sàng

2.1. Bệnh lý

Bệnh thể hiện ở các dạng: viêm cổ tử cung, viêm nội mạc có mủ, viêm tử cung tích mủ,....

Những tổn thương do thụ tinh nhân tạo, do giao phối trực tiếp, sau đẻ tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập. Vi khuẩn ở niêm mạc tử cung phát triển nhanh về số lượng, gây ra ổ viêm sung huyết, có mủ, gây tróc niêm mạc và xuất huyết.

Tử cung bị viêm chứa đầy mủ đặc

Các trường hợp nặng, vi khuẩn xâm nhập vào lớp cơ vòng của tử cung, tạo ra các ổ mủ và dịch thể lan toả trong xoang tử cung, có thể dẫn đển thủng tử cung gây nên bệnh viêm tử cung.

2.2. Triệu chứng lâm sàng

Tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết mà có các triệu chứng lâm sàng khác nhau. Căn cứ mức độ viêm nặng hay nhẹ có thể phân loại như sau:

- Viêm nội mạc tử cung mức độ 1 (Viêm cata đơn)

Gia súc động dục bình thường, dịch tiết khi động dục có thể có những gợn trắng ở niêm dịch, niêm dịch khác thường, không đồng nhất. Cổ tử cung sưng, tụ huyết, khám trực tràng không thể phân biệt được tử cung bị bệnh hay động dục.

- Viêm nội mạc tử cung mức độ 2 (Viêm nội mạc niêm dịch có mủ)

Gia súc không động dục bình thường, niêm dịch có mủ, cổ tử cung mở rộng hay hé mở và sung huyết, sừng tử cung cong, cứng, dày. Buồng trứng bình thường, có thể vàng lưu bệnh lý.

- Viêm nội mạc tử cung mức độ 3 (Viêm nội mạc có mủ)

Viêm tử cung mức độ 3 bao gồm: Viêm tử cung, viêm âm đạo và không chỉ nội mạc tử cung bị rối loạn sinh lý và tổn thương mà cả cơ trơn cũng bị viêm. Gia súc ngưng động dục, mủ chảy ra ngoài, nhiều nhất là lúc nằm. Cổ tử cung sưng, mở rộng hay hé mở, niêm mạc âm đạo sung huyết và có phủ màu trắng hay trắng vàng. Khám trực tràng thấy sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, tử cung kéo dài (nhất là trâu, bò cái già), buồng trứng có thể vàng lưu bệnh lý.

- Viêm tử cung tích mủ

Gia súc không động dục và thường nhầm với gia súc có chửa, có thể có trường hợp chảy mủ ra ngoài. Khám âm đạo thấy âm đạo kéo dài về phía xoang bụng vì sức nặng của tử cung chứa mủ. Cổ tử cung có thể đóng lại và bịt kín bằng dịch mủ như có chửa hoặc bị phủ chất nhầy, mủ.

Cổ tử cung và âm đạo viêm, khám trực tràng thấy hai sừng tử cung tăng dung tích và kích thước. Tử cung sa xuống xoang bụng nhiều hay ít tùy thuộc và lượng mủ tích trong đó (có trường hợp 15-20 lít mủ). Khi khám có thể nhầm với có chửa nhưng không thấy có thai, không có núm nhau, không cảm nhận có nhịp đập của động mạch giữa tử cung, ở buồng trứng có thể vàng tồn tại.

3. Phòng và trị bệnh

3.1. Phòng bệnh

Giữ vệ sinh chuồng trại và bãi chăn thả. Tắm chải cho gia súc, giữ vệ sinh cơ quan sinh dục, vùng chân sau và bầu vú. Kiểm tra gia súc hàng ngày để phát hiện bệnh và điều trị sớm. Nâng cao sức đề kháng cho gia súc.

Dụng cụ dùng thụ tinh cho gia súc phải vô trùng cẩn thận. Không cho gia súc đực có bệnh ở cơ quan sinh dục phối với gia súc cái.

Trâu, bò cái khi đẻ khó phải xử lý thì cần vô trùng dụng cụ và tay thú y viên.

3.2. Điều trị bệnh viêm tử cung ở trâu bò

- Thụt rửa tử cung âm đạo: Dùng một trong các dung dịch sau để thụt rửa: Iodin 1% hoặc thuốc tím 0,1%. Mỗi ngày thụt rửa 1 lần, mỗi lần 300 - 500 ml dung dịch.

- Điều trị nhiễm khuẩn: Để điều trị hiệu quả, nên phối hợp kháng sinh với Sulfamid. Kháng sinh dùng Ampicillin và Kamycin hoặc Streptomycin và Penicillin; Sulfamid dùng Sulfathiazon hoặc Sulfamerazin. Liều lượng và liệu trình theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Trợ sức: Tiêm Cafein hoặc long não nước. Truyền dung dịch huyết thanh mặn, ngọt: 1.000 - 2.000 ml/con/ngày.

- Điều trị triệu chứng: Vitamin K, C (chống xuất huyết); Vitamin A, D (hồi phục tổ chức niêm mạc); Tiêm Oxytocin hoặc Prostaglin để tống đẩy các dịch tiết, làm sạch tử cung. Liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Lưu ý: Hộ lý cần tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại trâu, bò trong thời gian điều trị.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Phòng và trị bệnh viêm tử cung ở trâu bò

Bệnh viêm tử cung bệnh thường xảy ra ở với trâu, bò sinh sản. gây ra ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất của vật nuôi như: mất sữa, chậm động dục trở lại, khiến cho tỷ lệ thụ thai giảm, trường hợp nặng gia súc có thể mất khả năng sinh sản, vô sinh vĩnh viễn.

1. Nguyên nhân

- Các rối loạn nội tiết như mất cân bằng estrogen/progesteron, tăng policulin, progesteron và biến đổi bệnh lý mô bào tử cung làm cho vi khuẩn có điều kiện thuận lợi để xâm nhập, tồn tại, phát triển và gây bệnh.

- Ngoài ra, sự xâm nhiễm các loại vi khuẩn, virut như: lao, xảy thai truyền nhiễm... cũng sẽ làm cho trâu, bò dễ bị viêm tử cung

- Do nhiễm vi khuẩn khi giao phối (bò đực bị viêm cơ quan sinh dục) hoặc thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vô trùng, đẻ khó phải can thiệp, sát nhau, giãn cổ tử cung, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không vệ sinh… là những yếu tố thuận lợi cho mầm bệnh xâm nhập và phát triển ở cổ tử cung gây nên bệnh viêm tử cung.


Bệnh viêm tử cung ở trâu bò

2. Bệnh lý và triệu chứng lâm sàng

2.1. Bệnh lý

Bệnh thể hiện ở các dạng: viêm cổ tử cung, viêm nội mạc có mủ, viêm tử cung tích mủ,....

Những tổn thương do thụ tinh nhân tạo, do giao phối trực tiếp, sau đẻ tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập. Vi khuẩn ở niêm mạc tử cung phát triển nhanh về số lượng, gây ra ổ viêm sung huyết, có mủ, gây tróc niêm mạc và xuất huyết.

Tử cung bị viêm chứa đầy mủ đặc

Các trường hợp nặng, vi khuẩn xâm nhập vào lớp cơ vòng của tử cung, tạo ra các ổ mủ và dịch thể lan toả trong xoang tử cung, có thể dẫn đển thủng tử cung gây nên bệnh viêm tử cung.

2.2. Triệu chứng lâm sàng

Tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết mà có các triệu chứng lâm sàng khác nhau. Căn cứ mức độ viêm nặng hay nhẹ có thể phân loại như sau:

- Viêm nội mạc tử cung mức độ 1 (Viêm cata đơn)

Gia súc động dục bình thường, dịch tiết khi động dục có thể có những gợn trắng ở niêm dịch, niêm dịch khác thường, không đồng nhất. Cổ tử cung sưng, tụ huyết, khám trực tràng không thể phân biệt được tử cung bị bệnh hay động dục.

- Viêm nội mạc tử cung mức độ 2 (Viêm nội mạc niêm dịch có mủ)

Gia súc không động dục bình thường, niêm dịch có mủ, cổ tử cung mở rộng hay hé mở và sung huyết, sừng tử cung cong, cứng, dày. Buồng trứng bình thường, có thể vàng lưu bệnh lý.

- Viêm nội mạc tử cung mức độ 3 (Viêm nội mạc có mủ)

Viêm tử cung mức độ 3 bao gồm: Viêm tử cung, viêm âm đạo và không chỉ nội mạc tử cung bị rối loạn sinh lý và tổn thương mà cả cơ trơn cũng bị viêm. Gia súc ngưng động dục, mủ chảy ra ngoài, nhiều nhất là lúc nằm. Cổ tử cung sưng, mở rộng hay hé mở, niêm mạc âm đạo sung huyết và có phủ màu trắng hay trắng vàng. Khám trực tràng thấy sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, tử cung kéo dài (nhất là trâu, bò cái già), buồng trứng có thể vàng lưu bệnh lý.

- Viêm tử cung tích mủ

Gia súc không động dục và thường nhầm với gia súc có chửa, có thể có trường hợp chảy mủ ra ngoài. Khám âm đạo thấy âm đạo kéo dài về phía xoang bụng vì sức nặng của tử cung chứa mủ. Cổ tử cung có thể đóng lại và bịt kín bằng dịch mủ như có chửa hoặc bị phủ chất nhầy, mủ.

Cổ tử cung và âm đạo viêm, khám trực tràng thấy hai sừng tử cung tăng dung tích và kích thước. Tử cung sa xuống xoang bụng nhiều hay ít tùy thuộc và lượng mủ tích trong đó (có trường hợp 15-20 lít mủ). Khi khám có thể nhầm với có chửa nhưng không thấy có thai, không có núm nhau, không cảm nhận có nhịp đập của động mạch giữa tử cung, ở buồng trứng có thể vàng tồn tại.

3. Phòng và trị bệnh

3.1. Phòng bệnh

Giữ vệ sinh chuồng trại và bãi chăn thả. Tắm chải cho gia súc, giữ vệ sinh cơ quan sinh dục, vùng chân sau và bầu vú. Kiểm tra gia súc hàng ngày để phát hiện bệnh và điều trị sớm. Nâng cao sức đề kháng cho gia súc.

Dụng cụ dùng thụ tinh cho gia súc phải vô trùng cẩn thận. Không cho gia súc đực có bệnh ở cơ quan sinh dục phối với gia súc cái.

Trâu, bò cái khi đẻ khó phải xử lý thì cần vô trùng dụng cụ và tay thú y viên.

3.2. Điều trị bệnh viêm tử cung ở trâu bò

- Thụt rửa tử cung âm đạo: Dùng một trong các dung dịch sau để thụt rửa: Iodin 1% hoặc thuốc tím 0,1%. Mỗi ngày thụt rửa 1 lần, mỗi lần 300 - 500 ml dung dịch.

- Điều trị nhiễm khuẩn: Để điều trị hiệu quả, nên phối hợp kháng sinh với Sulfamid. Kháng sinh dùng Ampicillin và Kamycin hoặc Streptomycin và Penicillin; Sulfamid dùng Sulfathiazon hoặc Sulfamerazin. Liều lượng và liệu trình theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Trợ sức: Tiêm Cafein hoặc long não nước. Truyền dung dịch huyết thanh mặn, ngọt: 1.000 - 2.000 ml/con/ngày.

- Điều trị triệu chứng: Vitamin K, C (chống xuất huyết); Vitamin A, D (hồi phục tổ chức niêm mạc); Tiêm Oxytocin hoặc Prostaglin để tống đẩy các dịch tiết, làm sạch tử cung. Liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Lưu ý: Hộ lý cần tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại trâu, bò trong thời gian điều trị.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm